Chương 24: Ba đêm gió thuận
Thuộc tiểu thuyết Đế Chế Bắt Đầu Từ Hoang Đảo
Tác giả: Hà Tinh Vân · Thể loại: Khoa Huyễn · Đăng ngày · 2591 từ · khoảng 13 phút đọc
Họ bắt được năm người sống.
Bốn người bị đá đè gãy chân ở khúc hẹp. Một người trúng tên vào vai, ngã ở bậc thứ chín, và nằm đó cho tới khi trận đánh kết thúc vì không ai bên nào quay lại chỗ ấy.
Ngày thứ một trăm lẻ tám, hội đồng họp về năm người đó, và cuộc họp ấy khó hơn mọi cuộc họp trước.
"Giết," Mai nói.
Cô nói câu đó không to, và cánh tay phải cô đang treo trên dây.
"Cô nói rõ ra," Trân nói.
"Chúng nó biết đường lên. Biết cái tường của mình cao bao nhiêu, dày bao nhiêu, có mấy khe. Biết mình có bao nhiêu nỏ và bắn theo nhịp nào." Mai nhìn thẳng. "Thả về là đưa cho Kình Hoành một tấm bản đồ."
"Không thả về thì nuôi?" Lộc hỏi. "Năm miệng ăn, mỗi ngày bốn lít nước, và phải có người canh."
"Tôi không nói nuôi."
"Cô nói giết."
"Tôi nói giết."
Thuỳ Dương đặt tay lên bàn đá.
"Tôi đã băng cho cả năm người ấy từ chiều qua," chị nói. "Tôi mất ba tiếng và mười một cuộn băng của tôi."
"Chị làm thế trước khi hỏi hội đồng," Mai nói.
"Đúng." Dương không né. "Và tôi sẽ làm lại đúng như thế nếu hôm nay lặp lại. Cô Mai, nếu hội đồng quyết giết thì tôi không cản được, nhưng tôi nói trước là tôi không làm, và tôi cũng không ngồi nhìn."
Im lặng kéo dài.
Nam lên tiếng.
"Có một chuyện chưa ai nói," anh nói. "Năm người kia biết đường lên đảo này. Nhưng chúng ta thì không biết gì hết."
Anh đặt lên bàn đá mảnh thẻ tre lấy từ xác người trên chiếc thuyền dạt.
"Chúng ta không biết đại lục ở đâu, tên là gì, ai cai trị. Không biết Hắc Kình có bao nhiêu thuyền, đóng ở đâu, ai đứng trên Kình Hoành. Không biết ba tháng nữa nó tới bằng năm chục người hay hai trăm."
Anh gõ ngón tay lên mảnh tre.
"Chúng ta không đọc được mười một chữ này."
Trân nhìn mảnh tre khá lâu.
"Bỏ phiếu," cô nói. "Giữ, chữa, hỏi. Không giết, không thả. Bàn lại sau ba mươi ngày."
Sáu thuận. Hai chống.
Mai là một trong hai phiếu chống, và cô nói rõ điều đó thành lời trước khi rời bàn.
*
Việc hỏi bắt đầu sáng ngày thứ một trăm lẻ chín, và người khó khăn nhất trong việc ấy không phải tù binh.
A Xuyến ngồi ngoài lán suốt nửa tiếng trước khi vào.
Vy ngồi cạnh cô.
"Chị không phải làm," Vy nói.
"Không ai khác làm được."
"Em sẽ học. Chậm thôi, nhưng em học được."
"Bao lâu?"
Vy im.
A Xuyến đứng dậy, kéo lại vạt áo, và cô đưa tay lên cổ tay trái, chỗ có vòng hằn, giữ nó một lúc như mọi khi.
Rồi cô buông ra và đi vào.
Cô ngồi xuống cách người bị hỏi ba bước, không gần hơn, và cô nói câu đầu tiên bằng tiếng của họ.
Người tù binh ngẩng lên, nhìn cô, nhìn cái vòng hằn trên cổ tay cô, và hắn nói một câu.
A Xuyến không dịch câu ấy.
"Cô ấy nói gì?" Trân hỏi.
"Không quan trọng," A Xuyến nói. "Hỏi tiếp đi."
*
Trong bốn ngày, họ có một bức tranh.
Nó không đầy đủ, và nhiều chỗ mâu thuẫn nhau, nhưng nó là bức tranh đầu tiên.
Về phía tây, cách đây ba đêm thuyền khi gió thuận và bảy đêm khi gió ngược, có một dải đất lớn. Nó gọi là Hồng Chử. Không ai trong năm người biết nó rộng bao nhiêu, và cả năm đều nói cùng một câu khi được hỏi: "đi cả đời không hết."
Trên Hồng Chử có một vương triều tên Xích Chiếu. Vua ở một nơi gọi là Xích Thành, sâu trong đất liền, và không ai trong năm người từng tới đó. Ba trong năm người biết tên vị Thái sư đương triều, và cả ba đều hạ giọng khi nói tên ấy.
Bờ đông Hồng Chử có một cảng lớn tên Cẩm Giang. Thuyền buôn từ đó đi khắp vùng biển. Muối và sắt là hàng của triều đình, tư nhân buôn thì phạm tội, tội nặng.
Có một liên minh thương nhân đường biển tên Cửu Chân, có thuyền riêng, có luật riêng, và có tiền để mua quan.
Vùng biển này gọi là Trảo Long. Trong Trảo Long có mấy chục hòn đảo, phần lớn không có nước ngọt.
Hắc Kình đóng ở ba hòn đảo phía tây bắc, cách đây khoảng một ngày rưỡi thuyền. Chúng có chín thuyền chiến, không phải ba. Kình Hoành là một trong bốn đầu lĩnh, và trên bốn đầu lĩnh còn một người nữa mà cả năm tù binh đều gọi bằng một cái tên khác nhau.
Chúng sống bằng cướp thuyền buôn và bắt người bán cho các mỏ trong đất liền.
Một người khoẻ mạnh, đàn ông, bán được giá bằng bốn tạ gạo.
Trân dừng bút khi ghi tới dòng ấy.
"Hỏi lại," cô nói.
Vy hỏi lại. A Xuyến dịch lại.
Con số không đổi.
*
Có một mảng lời khai mà cả năm người kể giống nhau đến kỳ lạ, dù bị hỏi riêng từng người: mảng về những vùng không ai vào.
Đường từ các mỏ ra biển không chạy thẳng. Nó vòng, có đoạn vòng xa gấp ba đường chim bay, men chân núi và bám bờ nước. Hỏi vì sao phải vòng, cả năm người dùng chung một chữ, và A Xuyến ngồi im một lúc rồi mới dịch được chữ ấy.
"Đất dữ," cô nói.
Một người kể chuyện đoàn phu ba mươi người của chủ hắn từng đi tắt qua một cánh rừng để kịp phiên chợ muối. Ra khỏi rừng còn bốn người. Bốn người ấy không kể lại được đầu đuôi gì — chỉ nói có thứ săn họ suốt hai ngày trong đó, và không ai trong bọn họ nhìn thấy nó lấy một lần.
"Hỏi vì sao vương triều không dọn những vùng đó đi," Nam nói.
Câu trả lời làm cả lán im.
Vương triều đã thử. Nhiều đời rồi. Những đạo quân được phái vào hoặc quay ra thiếu quá nửa, hoặc không quay ra. Đất dữ không đánh chiếm được — người ta chỉ sống quanh nó, như sống quanh biển: lấy của nó cái gì lấy được ở mép, và không bao giờ coi phần giữa là của mình.
"Thế nên các trấn mới cách nhau xa thế," Se-ra nói chậm, mắt vẫn nhìn tấm bảng năm cột của mình. "Và thế nên hàng mới phải đi bằng thuyền."
Rồi người tù binh trẻ nói thêm một chuyện, giọng hạ hẳn xuống, kiểu giọng người ta dùng khi kể chuyện trong đền.
Ở trấn ven núi quê hắn có một người mang đai sắt, sống bằng nghề dẫn đoàn buôn men theo mép đất dữ. Người ấy từng một mình đứng chặn một con thú to bằng con trâu nước cho cả đoàn chạy, và giết nó bằng ba nhát giáo. Hắn thề đã tận mắt nhìn thấy bộ xương con thú phơi trên cổng trấn, và sờ được vào cái xương sườn to bằng bắp đùi hắn.
"Người thường làm được thế không?" Trân hỏi.
A Xuyến dịch. Cả năm tù binh, lần đầu tiên trong bốn ngày, cùng lắc đầu về cùng một phía.
Se-ra ghi câu chuyện ấy lên bảng vữa, vào đúng cột chưa kiểm chứng.
Nhưng cô ghi nó bằng nét to gấp đôi những dòng khác.
*
Se-ra là người tìm ra cách kiểm tra lời khai, và cô làm việc đó bằng thứ cô vẫn làm.
"Hỏi năm người riêng từng người," cô nói. "Cùng một câu hỏi, khác thứ tự. Chỗ nào cả năm nói giống nhau thì gần đúng. Chỗ nào ba người nói một kiểu, hai người nói kiểu khác thì ghi cả hai, đánh dấu."
Cô lập một bảng trên vách vữa: mỗi cột một người, mỗi hàng một câu hỏi.
Sau bốn ngày, bảng ấy có ba mươi mốt hàng.
Hai mươi hai hàng khớp cả năm cột.
Sáu hàng chia làm hai nhóm.
Ba hàng thì mỗi người nói một kiểu, và Se-ra khoanh tròn ba hàng ấy lại.
"Ba cái này thì chúng ta không biết gì cả," cô nói. "Đừng ai đem nó ra bàn như thể biết."
Một trong ba hàng khoanh tròn là: Hắc Kình bao lâu quay lại.
*
Mảnh thẻ tre được đưa ra vào ngày thứ ba.
Nam đặt nó xuống trước mặt người tù binh trẻ nhất, người trúng tên vào vai, người đã bắt đầu chịu ăn từ hôm trước.
Hắn nhìn mảnh tre.
Rồi hắn nói một câu ngắn, và A Xuyến quay sang Vy.
"Anh ta bảo cái này là chữ của quan," cô nói.
"Anh ta đọc được không?"
A Xuyến hỏi. Người kia lắc đầu, rồi chỉ vào ba ký tự trong số mười một, và nói.
"Ba chữ này thì anh ta biết," A Xuyến dịch. "Chữ đầu là tên một thứ chức quan. Chữ giữa là số. Chữ cuối là tên một chỗ."
"Chỗ nào?"
Người tù binh nói một từ hai âm tiết.
Vy chép âm ấy lại. Trân ghi vào sổ. Se-ra khắc lên bảng vữa.
Cẩm Giang.
Nam ngồi nhìn ba ký tự ấy rất lâu, và anh nghĩ tới người đàn ông mặc giáp vảy đồng nằm dưới gờ đá bờ bắc, chỗ anh đã khắc cả mười một ký tự lên phiến đá đầu mộ mà không hiểu chữ nào.
"Ba trên mười một," anh nói.
"Còn tám chữ thì sao?" Trân hỏi.
"Thì tám chữ." Anh gói mảnh tre vào lá. "Nhưng ba tháng trước chúng ta có không chữ nào."
*
Chính khảo sát chiếc thuyền mắc cạn trong hai ngày, và ông bò khắp nó như bò trong buồng máy.
Ông về báo vào chiều ngày thứ một trăm mười một.
"Đáy thủng một mảng bằng cái chiếu, ở khoang giữa, do đá ngầm. Ba tấm ván gãy hẳn, bốn tấm nứt." Ông ngồi xuống, tay còn dính nhựa trét. "Cột buồm gãy chân. Bánh lái mất. Dây thì bọn nó cắt mang đi hết."
"Sửa được không?" Trân hỏi.
Chính chép miệng.
"Được."
"Bao lâu?"
"Nếu chỉ vá đáy cho nó nổi thì hai tháng. Nếu muốn nó đi được ba đêm biển thì bốn tháng, mà phải làm lại cả cột buồm với bánh lái." Ông nhìn Nam. "Và phải có buồm. Buồm thì tôi chịu."
"Sợi thì có," Vy nói ngay. "Loại cỏ chị Xuyến chỉ, em trồng thử ba luống rồi. Nhưng dệt thì cả trại này không ai biết dệt."
"Bà Tư biết," bà Tư nói từ chỗ bếp. "Bà nội tôi dệt chiếu. Tôi ngồi xỏ sợi cho bà từ năm sáu tuổi."
"Chiếu khác buồm."
"Khác chỗ nào?" bà Tư hỏi. "Cũng là sợi dọc sợi ngang chứ khác gì."
Không ai trả lời được câu ấy, và đó là lý do hai tuần sau trại có cái khung dệt đầu tiên.
*
Đêm ngày thứ một trăm mười hai, Đặng Bảo Trân triệu tập cả trại.
Hai mươi lăm người ngồi thành vòng quanh bếp. Năm tù binh ngồi trong lán, có người canh.
Cô không mở sổ.
"Tôi nói ba việc," cô nói. "Việc thứ nhất là một câu hỏi mà tôi nghĩ ba tháng rồi và chưa dám hỏi."
Cô nhìn quanh vòng người.
"Chúng ta là cái gì?"
Không ai đáp.
"Ba tháng trước chúng ta là một đám người đắm tàu. Đám người đắm tàu thì có danh sách, có kho chung, có người phân việc, và thế là đủ." Cô đứng dậy. "Hôm nay chúng ta có một cái tường, bốn cái mộ mới, năm tù binh, một con thuyền hỏng, và một cuốn sổ ghi rằng ở đây có luật thứ tám."
"Đám người đắm tàu không có tù binh," Lộc nói.
"Đúng." Trân gật. "Đám người đắm tàu cũng không cần bàn xem có được giết tù binh hay không. Sáng hôm kia chúng ta bàn chuyện đó, và chúng ta bỏ phiếu, và tôi ghi kết quả vào sổ."
Cô cầm cuốn sổ da lên.
"Cái này bắt đầu là danh sách khách mời của tôi. Bây giờ trong đó có tám luật, một hội đồng, một bảng phân công, và một dòng nói rằng ở đây không ai bị xích." Cô đặt nó xuống. "Tôi không biết gọi thứ đó là gì. Nhưng tôi biết nó không còn là danh sách khách mời nữa."
*
"Việc thứ hai," Trân nói. "Tên."
"Chúng ta bàn chuyện tên hồi tháng trước và không xong," Se-ra nói.
"Hồi tháng trước chúng ta chưa có gì đáng để đặt tên." Trân nhìn xuống chỗ bức tường mới ở đầu dốc. "Bây giờ có."
Người ta nêu tên. Có bảy cái, rồi mười một cái.
Bà Tư nêu một cái và bà nêu nó rất khẽ, tới mức Vy phải nhắc lại cho cả vòng nghe.
"Hoả Cù," Vy nói. "Bà bảo là Hoả Cù."
"Nghĩa là gì?" Khang hỏi. Cậu ta ngồi tựa vào vách, chăn quấn quanh người, và đây là câu đầu tiên cậu ta nói trước đông người kể từ hôm được cứu về.
"Cù lao có lửa." Bà Tư gãi tay. "Có cái núi kia thì gọi là hoả. Cù là cù lao. Thế thôi, chả có gì hay."
Nam ngẩng lên.
"Cái ngọn khói," anh nói.
"Sao cơ?"
"Ngày thứ nhất, lúc tôi tỉnh dậy trên bãi cát." Anh nhìn về phía núi, chỗ vệt hơi mỏng vẫn bốc lên đứng yên trong không khí như suốt một trăm mười hai ngày qua. "Thứ đầu tiên tôi nhìn thấy là cái ngọn khói ấy. Tôi nhìn nó trước cả khi tôi nhớ ra em gái tôi."
Trân cho bỏ phiếu.
Hoả Cù được mười chín phiếu trong hai mươi lăm.
*
"Việc thứ ba," Trân nói, khi đã ghi xong.
Cô nhìn Nam.
"Anh nói đi."
Nam đứng dậy.
Anh không có gì trong tay. Anh không mang tấm vỏ cây nào, không mang bản vẽ nào.
"Chiếc thuyền dưới kia," anh nói. "Bác Chính bảo bốn tháng thì nó đi được ba đêm biển."
"Đi đâu?" ai đó hỏi.
"Về phía tây." Anh chỉ. "Ba đêm gió thuận."
"Để làm gì?"
"Để bán muối," Nam nói. "Để đổi lấy sắt, lấy hạt giống, lấy người biết dệt, lấy sách nếu ở đó có sách. Để biết mười một cái chữ kia viết gì. Để biết Hắc Kình có bao nhiêu thuyền thật, chứ không phải chín cái theo lời năm người đang nằm trong lán."
Anh ngừng.
"Và để đi tìm mẹ với em của chị Xuyến," anh nói.
A Xuyến ngồi ở rìa vòng người, cạnh Vy.
Cô không nhìn lên. Cô ngồi rất im, và hai bàn tay cô đặt trên đầu gối, và ngón tay cô bấm vào vải áo tới mức trắng bệch ra.
Vy đặt tay lên cổ tay cô.
Cả vòng người im rất lâu.
"Bốn tháng," Trân nói cuối cùng. "Anh Lộc, ghi vào sổ công."
Lộc mở sổ, khắc que xuống, rồi dừng lại.
"Ghi vào cột nào?" ông ta hỏi.
"Cột hoàn vốn," Trân nói. "Để trống."