Chương 36: Không Phải Một Người
Thuộc tiểu thuyết Đế Chế Bắt Đầu Từ Hoang Đảo
Tác giả: Hà Tinh Vân · Thể loại: Khoa Huyễn · Đăng ngày · 2254 từ · khoảng 11 phút đọc
Ba ngày sau chuyến Vy tìm thấy bộ xương lạ trên sườn núi, tới lượt Chính dẫn một nhóm khác quay lại đó — không phải để đào, mà để hạ ba cây gỗ đã đánh dấu cho cột buồm thứ hai. Rìu đã mài lại đêm hôm trước. Lưỡi sáng đến mức Chính soi được bóng mây trên đó. Bốn người rời trấn khi sương còn đọng trên lá.
Chính đi đầu, vác rìu và một cuộn dây gai to bằng cổ tay. Mai theo sau, mang cung và một bó cọc gỗ nhọn dùng để đánh dấu đường. Cù Đễ và Khang khiêng khung gỗ hình chữ A, dùng để lăn thân cây xuống dốc cho đỡ sức người. Ba cây đã đánh dấu từ chuyến trước còn nguyên vết chém hình chữ thập trên vỏ. Chúng đứng cách nhau chưa đầy hai trăm bước, cùng trên một sườn núi.
Việc hôm nay không phải hạ cây. Việc hôm nay là tìm đường kéo chúng xuống mà không phải phá thêm một khoảnh rừng nào khác.
"Đường cũ dẫn qua khe đá hẹp." Chính đo khoảng cách giữa hai vách đá bằng sải chân. "Thân cây dài thế này không lọt. Phải vòng."
Mai không trả lời ngay. Cô cúi nhìn một vệt đất lún hình móng thú, đứng dậy, gật đầu về phía bụi cây rậm bên trái. Nhóm rẽ theo hướng đó, phát quang bằng rìu và dao rừng, mở một lối đủ rộng cho hai người khiêng khung chữ A đi song song. Đất ở đây ẩm hơn phần rừng gần biển. Dương xỉ mọc cao quá đầu gối, lá cứa vào bắp chân Khang mấy lằn đỏ. Khang phải vung dao liên tục để giữ nhịp cho cả đoàn, mồ hôi đã ướt lưng áo trước khi mặt trời lên quá ngọn cây. Thỉnh thoảng lưỡi dao va phải rễ cây ngầm dưới lớp lá mục, dội ngược lại tay anh một cái giật khô khốc.
Có lúc lối đi hẹp tới mức khung chữ A phải nghiêng sang một bên mới lọt qua giữa hai thân cây lớn. Cù Đễ và Khang đổi vai liên tục, tay này mỏi thì chuyển sang tay kia, không ai lên tiếng than. Một con chim gì đó vụt bay khỏi bụi rậm ngay trước mặt Mai, khiến cô giương cung theo phản xạ rồi hạ xuống ngay khi nhận ra chỉ là chim.
Nửa canh giờ sau, lối phát quang dẫn thẳng ra một khoảng trống nhỏ dưới chân một vách đá phụ. Vách này không cao bằng vách chính nơi có hàng năm lỗ đục vuông tìm thấy hồi ngày thứ ba trên đảo, chỉ ngang tầm hai người đứng chồng vai. Nhưng cùng loại đá xám xanh, cùng thớ đá phẳng lì như bị mài nhẵn bằng tay. Cù Đễ dừng bước đầu tiên, chỉ tay lên cao ngang vai người lớn.
"Có gì đó trên đá."
Hai lỗ vuông. Cách nhau đúng một gang tay. Sâu chừng ba đốt ngón tay. Cạnh lỗ vuông vức, không một chỗ sứt mẻ.
Mai bỏ cung xuống đất, tiến lại gần. Cô đưa ngón tay chạm vào mép lỗ, rồi rút tay ra ngay, như chạm phải thứ lạnh hơn cô tưởng. Cô lấy một que gỗ nhỏ chọc vào trong, ước lượng lỗ sâu bao nhiêu. Rồi cô so lớp rêu bám quanh miệng lỗ với một dải da thuộc khắc vạch cô mang theo bên hông — dụng cụ riêng cô dùng để ước tính lớp rêu dày mỏng ra sao mỗi lần quay lại hàng lỗ cũ, thói quen giữ suốt ba năm không bỏ.
"Cùng độ rêu." Mai nói, giọng đều đều như đang đọc một danh sách. "Cùng độ sâu. Cùng khoảng cách lỗ với lỗ, tính theo gang tay chứ không phải theo bước chân."
"Nhưng chỗ này cách hàng lỗ cũ hơn một cây số." Cô đứng thẳng dậy, phủi tay vào vạt áo. "Qua ba con dốc và một khe nước. Không ai đi lạc mà khoan đúng kiểu này hai lần, ở hai chỗ xa nhau đến vậy."
Chính đặt rìu xuống, bước tới xem cạnh lỗ dưới ánh sáng nghiêng của buổi sớm. Anh từng đục hàng trăm lỗ mộng gỗ trong đời làm nghề mộc trước khi lên đảo, biết rõ dụng cụ nào để lại vết nào trên từng loại vật liệu. Cạnh lỗ này nhẵn đến mức không thấy dấu xoay của bất cứ mũi khoan nào trấn từng có, kể cả loại tốt nhất rèn từ thép lẫn titan mà Chính tự hào nhất.
"Dụng cụ khoan cái này không mòn theo kiểu dụng cụ của ta." Anh nói chậm, ngón tay vẫn miết theo thành lỗ. "Ta khoan đá là mài dần, mép sẽ hơi cong. Cái này thẳng tuyệt đối. Như cắt, chứ không phải mài."
Khang đứng lùi lại một bước, mắt nhìn quanh khoảng rừng thưa, tìm thêm dấu vết khác trên nền đất và trên thân cây gần đó. Không có gì — không vỏ cây tróc, không cành gãy bất thường, không dấu chân nào ngoài dấu của chính bốn người vừa đi tới. Cù Đễ đứng im, tay vô thức nắm chặt cán dao. Anh không nói ra, nhưng khoảng trống dưới vách đá này khiến anh nhớ một cảm giác cũ — cảm giác mỗi lần cha anh nhắc tới vùng đất phía tây mà dân làng cũ của anh không ai bước chân vào.
Mai cất dải da thuộc vào túi. "Hàng lỗ đầu tiên, ta từng nghĩ có thể là dấu một người, một lần, rồi bỏ đi hoặc chết ở đâu đó gần bờ." Cô nhìn thẳng vào Chính rồi vào Cù Đễ, từng chữ tách rời như đóng đinh xuống đất. "Giờ có hai chỗ, cách nhau hơn một cây số, cùng kiểu khoan, cùng độ rêu. Nghĩa là cùng thời điểm, hoặc gần nhau lắm."
"Không phải một người khoan." Cô nói tiếp, chậm hơn, để từng chữ rơi đúng chỗ. "Là một nhóm, đi qua nhiều lần. Đủ lâu để lại dấu ở nhiều chỗ khác nhau trên cùng một sườn núi."
Không ai nói gì trong khoảnh khắc sau đó. Chỉ có tiếng gió luồn qua tán lá dương xỉ, và tiếng nước chảy vọng lên từ khe đá phía dưới. Chính phá vỡ im lặng trước, không phải bằng suy đoán mà bằng một câu hỏi thuần tuý về công việc.
"Nếu là chỗ neo dây, để kéo thứ gì đó qua vách này." Anh nhìn xuống cuộn dây gai đang cầm trong tay. "Có khi cùng kiểu bài toán tụi mình đang giải hôm nay."
Cả nhóm nhìn lại khung chữ A đang dựng dưới chân dốc, sợi dây gai cuộn tròn cạnh đó, chờ được buộc vào thân cây đầu tiên. Mai không xác nhận cũng không phủ nhận ý đó. Cô lấy hai vỏ ốc từ túi vải đeo bên hông, thói quen đánh dấu hiện trường giữ từ lần đầu tìm thấy hàng lỗ cũ. Một vỏ đặt dưới chân vách đá. Một vỏ đặt trên phiến đá phẳng cách đó vài bước, đủ để nhận ra lần sau mà không cần đào bới hay chạm thêm vào lỗ khoan.
"Việc của hôm nay là gỗ." Cô nhấc cung lên vai. "Chỗ này ghi lại, báo cho Nam, để đó."
Nhóm quay lại việc hạ ba cây đã đánh dấu. Chính đi vòng quanh cây đầu tiên hai lượt, ngước nhìn tán lá để chọn hướng đổ tránh vách đá và tránh luôn cả khoảng trống có hai lỗ vuông. Anh bổ nhát rìu đầu tiên vào phía sẽ đổ, sâu một phần ba thân, rồi vòng sang phía đối diện bổ tiếp một đường thấp hơn. Tiếng rìu vang đều trong buổi sáng, mỗi nhát chặt lún sâu thêm vào lớp vỏ đã có sẵn vết chữ thập cũ.
Tới nhát thứ hai mươi, thân cây bắt đầu kêu răng rắc ở phần lõi. Chính hô lớn một tiếng, cả nhóm lùi ra xa. Cây đổ xuống đúng hướng anh tính, cành lá va rào rào vào bụi rậm bên cạnh, để lại một khoảng trời hở giữa tán rừng. Không ai bị thương, không cành nào văng trúng khung chữ A đang chờ sẵn.
Cây thứ hai khó hơn. Rễ nó ăn sát vào một tảng đá lớn, khiến Chính phải đổi hướng hạ vào phút chót, chặt thêm nửa canh giờ để mở một đường nêm khác bên hông. Giữa chừng, một cành khô gãy rời trên cao, rơi thẳng xuống chỗ Khang vừa đứng. Cù Đễ kịp kéo tay cậu lùi lại hai bước, cành cây cắm xuống đất đúng chỗ Khang vừa rời khỏi. Không ai nói gì thêm về chuyện đó, chỉ Chính hô lớn "lùi thêm nữa" trước khi bổ nhát rìu tiếp theo. Mồ hôi ướt đẫm áo anh trước khi cây đổ xong. Cây thứ ba đổ nhanh hơn cả hai cây trước cộng lại, vì mọc trên đất bằng, không vướng đá hay rễ cây khác.
Buổi trưa, cả đoàn nghỉ ăn cơm nắm bên gốc cây vừa hạ. Cù Đễ nhìn lại phía vách đá phụ một lần, dù đã bị che khuất sau rặng cây từ chỗ họ ngồi. Anh vẫn còn cảm giác lạnh ở đầu ngón tay, dù anh chưa từng thật sự đưa tay vào miệng lỗ như Mai. Khang hỏi anh có sao không, anh chỉ lắc đầu, bẻ đôi miếng cơm nắm chia cho Khang một nửa.
Buổi chiều, cả đoàn kéo được thân cây đầu tiên tới chân dốc bằng khung chữ A. Dây gai siết chặt quanh gốc cây, kêu cọt kẹt theo từng bước lăn. Hai thân cây còn lại phải để ở chỗ hạ, đánh dấu bằng cọc gỗ nhọn Mai mang theo, chờ chuyến sau quay lại kéo tiếp vì trời đã ngả về tối.
Về tới trấn lúc trời sẩm tối, Mai tìm Nam ngay tại xưởng rèn, nơi anh đang cùng Se-ra kiểm tra lại mối hàn trên một bản lề mới đúc. Cô đặt tấm bản đồ vẽ tay lên bàn gỗ, một dấu chấm mực đỏ đánh cách hàng lỗ cũ hơn một cây số.
"Hai lỗ nữa." Mai gõ ngón tay lên dấu chấm đỏ. "Cùng kiểu, khác chỗ."
Se-ra đặt bản lề xuống, cúi nhìn tấm bản đồ. Nam không hỏi ngay điều Mai vừa nói có nghĩa gì, chỉ hỏi một câu thực tế trước.
"Có ảnh hưởng gì tới đường kéo gỗ không?"
"Không. Đường vòng qua bên trái, không đụng chỗ đó." Mai gấp tấm bản đồ lại, nhét vào túi áo. "Nhưng tôi cần thêm hai người đi cùng lần tới, không phải để đào — để đo cho hết cả sườn núi này xem còn bao nhiêu chỗ nữa."
Sáng hôm sau, Mai mang chuyện đó ra trước cả hội đồng, ngay sau phần báo cáo tiến độ kéo gỗ. Cô trải lại tấm bản đồ lên bàn gỗ dài, chỉ vào hai dấu chấm mực cách nhau hơn một cây số.
Lộc là người lên tiếng trước, tay vẫn cầm cuốn sổ công đang mở dở. "Hai người, mấy ngày?"
"Hai ngày. Có thể ba, nếu phải đi vòng qua khe nước lần nữa." Mai không né câu hỏi. "Tôi biết ông sắp hỏi gì tiếp."
"Vậy tôi hỏi thẳng." Lộc đặt bút xuống bàn. "Gỗ cột buồm thứ hai còn hai cây chưa kéo hết xuống núi. Mùa vụ rau củ cần thêm người làm cỏ trong tuần này. Giờ lại thêm hai người đi đo mấy cái lỗ trên đá, để làm gì, khi nó không đổi được một hạt gạo nào cho trấn?"
Trân gõ nhẹ ngón tay lên mặt bàn, chưa nghiêng hẳn về bên nào. "Câu hỏi công bằng. Nhưng câu hỏi kia cũng công bằng: nếu có một nhóm người từng đi qua đảo này, đủ đông để lại dấu ở nhiều chỗ, ta có nên biết trước khi họ — hoặc con cháu họ — quay lại không?"
"Không ai nói là quay lại." Lộc cau mày.
"Không ai nói là không." Mai đáp gọn, mắt nhìn thẳng vào ông.
Nam không xen vào ngay. Anh nhìn tấm bản đồ một lúc, rồi nhìn sang Chính đang ngồi cạnh, tay vẫn còn dính nhựa cây từ hôm qua. "Hai cây gỗ còn lại kéo được trong bao lâu, không tính chuyện đo đạc?"
"Bốn ngày, nếu trời không mưa." Chính đáp.
Nam gật đầu, quay sang Lộc. "Vậy cho Mai hai người, đi sau khi kéo xong gỗ, không đi cùng lúc. Không đụng vào tiến độ cột buồm. Nếu ba ngày không đủ, dừng lại, về báo cáo, không tự ý kéo dài thêm."
Lộc im lặng một lúc, rồi cầm bút lên, ghi gì đó vào sổ. "Được. Nhưng ghi rõ vào sổ công: đây là việc thăm dò, không phải việc sản xuất." Lộc gạch một đường dưới dòng chữ vừa viết. "Lần sau muốn thêm người cho việc kiểu này, phải nói trước ba ngày, không phải mang ra giữa cuộc họp."
Mai không tranh cãi thêm. Cô cuộn tấm bản đồ lại, cất vào ống tre đeo sau lưng, rồi gật đầu một cái ngắn với Lộc trước khi quay ra cửa, đi thẳng về phía kho tên để kiểm lại số cọc gỗ còn đủ cho hai ngày tới.