Chương 48: Người Chưa Từng Gặp Mặt
Thuộc tiểu thuyết Đế Chế Bắt Đầu Từ Hoang Đảo
Tác giả: Hà Tinh Vân · Thể loại: Khoa Huyễn · Đăng ngày · 2226 từ · khoảng 11 phút đọc
Mười ngày sau buổi kéo gỗ đầu tiên, một chiếc thuyền nhỏ lạ mặt xuất hiện ở cửa vịnh. Cờ hiệu trên đó khác hẳn bất cứ thuyền nào từng ghé Hoả Cù. Mai ra lệnh báo động nhẹ. Khi thuyền tới gần, Cù Đễ nhận ra ngay lá cờ vẽ hình con sóng xanh — dấu hiệu của thương hội Cửu Chân.
Người trên thuyền chỉ có một, một thanh niên trạc tuổi Cù Đễ, tự xưng tên A Tứ, làm chân chạy việc cho Khinh Vân. Cậu cột thuyền đúng chỗ được chỉ, tay còn hơi run vì đi một mình cả quãng đường dài. Mắt cậu nhìn quanh trấn với vẻ tò mò không giấu được — rõ ràng đây là lần đầu tới một nơi xa lạ như vậy một mình. Vài đứa trẻ trong trấn kéo tới đứng vòng ngoài nhìn, xì xào bàn tán về bộ áo cắt kiểu khác hẳn quần áo trấn vẫn mặc.
Cậu mang theo một phong thư đóng dấu triện quen thuộc. Kèm theo là lời nhắn miệng: cô chủ muốn biết khi nào đoàn Hoả Cù định quay lại, để chuẩn bị trước nguồn khách mua thêm.
Nam mở thư ngay tại bến trước sự chứng kiến của Trân và Mai. Nội dung ngắn gọn, đúng lời hứa ở lần trước: mọi khoản phí lần sau sẽ ghi rõ bằng giấy trước khi giao dịch. Kèm theo đó là giá tham khảo cho một số mặt hàng Khinh Vân nghĩ Hoả Cù có thể làm được thêm — vải dệt, đồ gốm nung cứng, và cả xà phòng thơm hơn loại đã bán.
"Report cho ông ấy biết, chưa có ngày cụ thể." Nam nói với A Tứ, gấp thư lại cẩn thận. "Còn phải lo vụ mùa trước."
A Tứ gật, không hỏi thêm, có vẻ quen với việc chỉ mang tin đi rồi mang tin về mà không cần hiểu hết mọi chuyện. Cậu ở lại ăn một bữa cơm cùng vài người trong trấn trước khi quay thuyền, theo đúng phép tắc lịch sự giữa hai bên buôn bán.
Bữa cơm dọn ngay ngoài sân, cá kho cùng rau vườn hái buổi sáng. A Tứ ăn ngon lành, luôn miệng khen món cá lạ hơn hẳn cách nấu ở Cẩm Giang. Bà Tư đứng bếp nghe vậy cười thầm, múc thêm cho cậu một bát đầy. Nga ngồi gần đó, tò mò hỏi cậu về cảnh chợ búa, về những con thuyền lớn cậu từng thấy. Cả bàn ăn rôm rả hẳn lên so với mọi bữa thường ngày.
Trong lúc mọi người còn đang dọn bát đũa, A Tứ kéo riêng Cù Đễ ra một góc, giọng hạ thấp hẳn xuống.
"Anh là người ở Hoả Cù thật à? Nghe nói ở đó không có ai bị xích."
Cù Đễ khựng lại một nhịp trước câu hỏi đột ngột. "Đúng. Sao cậu hỏi vậy?"
"Có chuyện này, tôi không chắc nên nói không, nhưng nghĩ mãi vẫn thấy phải nói." A Tứ nhìn quanh, hạ giọng thấp hơn nữa. "Ở khu mỏ muối ngoài thành, có một người làm phu, tay chân đều mang xiềng. Mấy lần tôi ghé qua đó giao hàng, ông ta nghe tôi kể chuyện một cái thuyền lạ tới từ đảo xa. Không buôn muối. Người trên thuyền cũng chẳng ai đeo xiềng. Ông ta cứ hỏi đi hỏi lại, cuối cùng nhờ tôi một việc. Nếu có dịp gặp lại người của thuyền đó, nói giúp một câu: nếu còn quay lại, xin cho ông ta theo về, dù phải làm bất cứ việc gì."
Cù Đễ đứng lặng một lúc lâu, tay vô thức đưa lên chạm vào cổ tay mình, nơi từng có dấu xích hằn sâu suốt ba năm bị Hắc Kình bắt giữ. Vết đó giờ đã mờ gần hết, chỉ còn hiện rõ khi trời lạnh hoặc khi anh siết tay quá chặt. Cảm giác kim loại cọ vào da mỗi đêm năm xưa thì chưa bao giờ thật sự biến mất khỏi trí nhớ.
"Ông ta tên gì?" Cù Đễ hỏi, giọng đã đổi khác.
"Không biết rõ, chỉ nghe người khác gọi là lão Tam. Tuổi chắc ngoài năm mươi, chân đi khập khiễng vì bị đánh lâu năm." A Tứ đáp, rồi cụp mắt xuống, có vẻ ngần ngại vì đã lỡ lời.
"Ông ta còn bao nhiêu năm khế ước, cậu có biết không?" Cù Đễ hỏi tiếp, cố giữ giọng bình thản.
"Nghe đâu là khế ước trọn đời, không có hạn." A Tứ lắc đầu. "Mấy người phu ở đó phần lớn đều vậy — vay nợ không trả nổi, coi như bán thân làm phu suốt phần đời còn lại." "Tôi không rành luật lệ trên đó ra sao, chỉ thấy nên nhắn lại thôi. Anh đừng làm gì liều lĩnh vì chuyện này. Ở Cẩm Giang, giúp phu mỏ trốn là trọng tội, bắt được là mất đầu cả hai bên."
Cù Đễ gật, không hứa gì, chỉ cảm ơn A Tứ rồi tiễn cậu ra thuyền. Suốt quãng đường quay lại nhà họp, anh không nói một lời nào với ai, đầu óc quay cuồng với đủ thứ hình ảnh cũ chưa từng kể cho ai nghe trọn vẹn, mãi tới khi tìm được Nam đang ở bãi gỗ mới kể lại toàn bộ câu chuyện.
Nam nghe xong, đặt cây thước đo xuống, im lặng một lúc lâu trước khi lên tiếng. Anh nhìn Cù Đễ, thấy hai bàn tay anh vẫn siết chặt vào nhau, đốt ngón tay trắng bệch. "Họp hội đồng tối nay."
Buổi họp tối đó không đông đủ vui vẻ như lần bàn chuyện đóng thuyền. Đèn dầu thắp lên sớm hơn thường lệ, ánh sáng vàng hắt lên mặt từng người ngồi quanh bàn, không ai nói chuyện phiếm chờ đủ mặt như mọi khi.
Cù Đễ kể lại nguyên văn lời A Tứ, giọng run nhẹ ở đoạn nhắc tới xiềng xích. Trân ngồi im, tay đặt lên tấm ván tám điều dựng trong góc phòng họp — nơi khắc rõ điều thứ sáu: ở Hoả Cù không ai bị xích, không ai bị mua bán. Nét khắc đã sờn bóng ở đúng chỗ điều thứ sáu, dấu vết của không biết bao nhiêu lần người ta vô tình hay cố ý đưa tay chạm vào trong những buổi họp trước.
"Điều đó viết cho người ở đây." Lộc lên tiếng trước, giọng thận trọng hơn thường lệ. "Không phải lời hứa với người ngoài Cẩm Giang."
"Vậy nó chỉ có giá trị khi dễ giữ thôi sao?" Trân hỏi lại, không lớn tiếng nhưng đủ sắc. "Nếu chỉ áp dụng lúc thuận tiện, nó không còn là điều luật, chỉ là câu trang trí trên ván gỗ."
Dương gật đầu đồng tình. "Điều đó viết ra không phải để dễ đọc trên ván, mà để khó bước qua trong lòng mỗi người ở đây. Nếu giờ ta bỏ qua chỉ vì người cần tới nó không sinh ra ở Hoả Cù, vậy sau này ai còn tin nó thật sự có nghĩa gì."
Nhưng Mai lập tức phản bác. "Đồng tình về nguyên tắc không có nghĩa liều cả trấn. Nếu bị bắt vì giúp phu mỏ trốn, không chỉ mất giấy phép, mất cả mối hàng. Còn kéo theo hoạ lớn hơn nhiều. Xích Chiếu khác hẳn Hắc Kình, có quân đội thật, có luật thật."
Se-ra ngồi im từ đầu buổi, tay đan chặt vào nhau trên bàn. "Chúng ta còn chưa biết mặt ông ta, chưa biết ông ta có thật lòng muốn theo hay chỉ nói lúc túng quẫn. Liều cả mối làm ăn với Cẩm Giang cho một người mình chưa từng gặp — nghe có vẻ vội."
"Cù Đễ cũng là người tôi chưa từng gặp, trước ngày anh ấy xin ở lại." Nam đáp, quay sang nhìn Cù Đễ một lúc. "Lúc đó ta cũng đâu chắc chắn gì hơn bây giờ."
"Không ai nói tới việc cướp người khỏi mỏ muối." A Xuyến lên tiếng, lần đầu góp lời trong buổi họp. "Nếu là mua lại khế ước làm phu của ông ta, đó là giao dịch, không phải trốn chạy. Ở quê tôi, người ta vẫn làm vậy để chuộc thân cho nhau, không phạm luật nào cả."
Cả phòng im lặng, ngẫm lại điều A Xuyến vừa nói. Nam là người phá vỡ im lặng trước.
"Nếu đúng vậy, ta không phá luật Xích Chiếu, chỉ dùng đúng luật của họ để lấy lại một con người." Anh nói chậm, giọng như đang tự thuyết phục chính mình. "Nhưng phải nhờ Khinh Vân đứng ra mua hộ. Tuyệt đối không thể để cái tên Hoả Cù dính trực tiếp vào việc mua bán một người, dù là mua để thả tự do."
"Nhờ cô ta, nghĩa là lại thêm một khoản nợ, một khoản phí không biết trước." Lộc nhắc, giọng vẫn còn dè dặt nhưng đã bớt hẳn vẻ phản đối thẳng thừng lúc đầu. "Khế ước trọn đời như A Tứ vừa nói, giá chuộc chắc chắn không rẻ. Có khi bằng cả một chuyến hàng."
"Bằng cả một chuyến hàng cũng đáng." Cù Đễ nói ngay, không kịp suy nghĩ. Nhận ra giọng mình vừa cao hơn cần thiết, anh hạ xuống, nói tiếp chậm hơn. "Xin lỗi. Nhưng với tôi, con số đó không lớn bằng những gì đổi lại được."
"Tôi không nói không đáng." Lộc đáp, không tỏ vẻ khó chịu vì bị ngắt lời. "Tôi chỉ nói phải tính trước, để không bị động khi Khinh Vân đưa ra giá."
"Và phải chờ tới lần buôn bán kế tiếp mới thực hiện được, không thể làm ngay."
"Chờ thì chờ." Cù Đễ nói, giọng đã vững lại. "Ba năm tôi từng chờ một cơ hội như vậy mà không ai tới. Ông ta còn hy vọng, vậy đã hơn hẳn cảnh không ai nhớ tới mình cả."
Trân nhìn khắp lượt cả phòng, rồi đưa ra câu quyết định cuối cùng. "Vậy biểu quyết. Không phải chuyện giải cứu bằng vũ lực, chỉ là uỷ thác cho Khinh Vân đàm phán mua lại một khế ước phu mỏ, vào lần buôn bán kế tiếp. Ai đồng ý?"
Bảy cánh tay giơ lên gần cùng một nhịp. Chỉ Lộc chậm hơn nửa nhịp trước khi cũng giơ tay theo, vẻ mặt vẫn còn nặng nề vì khoản chi phí chưa biết trước.
"Thống nhất." Trân nói, ghi dòng quyết định vào sổ, tay hơi run khi viết xuống dòng cuối: nếu việc bại lộ giữa chừng, hội đồng chịu trách nhiệm chung, không đổ lỗi cho riêng ai đứng ra thương lượng.
Cô đóng sổ lại, nhìn quanh một lượt trước khi thêm một câu cuối cùng. "Chuyện này không được lộ ra ngoài phòng họp, kể cả với người trong trấn chưa cần biết. Càng ít người biết, càng ít rủi ro cho cả Cù Đễ lẫn ông lão ở Cẩm Giang."
Mọi người gật đầu đồng ý, coi như đã khép lại phần quan trọng nhất của buổi họp.
Cù Đễ ở lại sau khi mọi người đã về hết, đứng trước tấm ván tám điều một lúc lâu, ngón tay lần theo từng nét khắc điều thứ sáu. Nam đến bên, đặt tay lên vai anh, đứng lặng một lúc trước khi lên tiếng, để anh có thêm chút thời gian trấn tĩnh lại.
"Chưa chắc thành. Có thể Khinh Vân từ chối, có thể tới nơi ông ta đã bị bán đi chỗ khác, hoặc đã không còn ở lại được tới ngày đó." Nam nói thẳng, không muốn hứa hẹn suông. "Nhưng ít nhất ta đã thử, đúng như những gì khắc trên tấm ván này."
Cù Đễ gật, không nói gì thêm, chỉ đưa tay chạm lại vào cổ tay mình một lần nữa trước khi quay người bước ra khỏi căn nhà họp. Ánh trăng khuya hắt bóng anh dài trên nền đất, kéo dài qua cả bậc thềm nơi tấm ván tám điều vẫn còn dựng nguyên trong góc phòng phía sau lưng.
Ngoài sân, gió đêm lùa qua mấy tán cây thưa, mang theo hơi lạnh đầu mùa. Cù Đễ đứng lại một lúc, nhìn về hướng biển tây — hướng của Cẩm Giang, hướng của khu mỏ muối nơi một người ông chưa từng gặp mặt đang chờ một câu trả lời có thể không bao giờ tới kịp.
Xa xa, phía bãi gỗ, vẫn còn ánh đuốc le lói — vài người trong tổ đóng thuyền tranh thủ làm thêm dưới ánh trăng trước khi mùa gieo bắt đầu, tiếng cưa xẻ vọng lại đều đặn qua màn đêm. Cù Đễ nhìn về phía đó một lúc, nghĩ tới việc con thuyền thứ hai một ngày nào đó có thể chính là thứ mang lão Tam về, nếu mọi chuyện suôn sẻ.
Anh xoay người bước về phía lều nghỉ, bước chân chắc hơn hẳn lúc rời phòng họp. Qua khung cửa lều còn để hé, ánh đèn dầu của A Xuyến vẫn sáng. Cô còn thức, ngồi vá lại một đường chỉ sờn trên vạt áo, chưa buồn ngủ dù đêm đã khuya.