Chương 5: Con nước rút lúc bốn giờ
Thuộc tiểu thuyết Đế Chế Bắt Đầu Từ Hoang Đảo
Tác giả: Hà Tinh Vân · Thể loại: Khoa Huyễn · Đăng ngày · 2498 từ · khoảng 12 phút đọc
Ngày thứ tư, con nước rút xa hơn Nam tưởng.
Lúc bốn giờ chiều, mép nước lùi ra tới gần hai trăm bước, để lộ một vạt đá ngầm phủ rong, lỗ chỗ vũng, đầy hà bám. Cua nhỏ chạy ngang dọc. Trong một vũng sâu bằng bắp chân, ba con cá bạc mắc kẹt, quẫy loạn.
Tuấn lội xuống chộp. Trượt. Chộp lần nữa. Trượt.
"Đừng đuổi," Mai nói. "Chặn."
Cô lấy hai bàn tay khép lại thành hình phễu, dồn con cá vào góc vũng, rồi ép nó lên phiến đá. Con cá nằm giãy trên tay cô.
Nam không nhìn con cá. Anh nhìn cái vũng.
"Nó mắc lại vì nước rút nhanh hơn nó bơi," anh nói. "Vậy thì ta làm cho cả cái bãi này thành một cái vũng."
*
Bẫy mất hai ngày để xây.
Nam chọn khúc bãi triều thoải nhất, chỗ có sẵn hai gờ đá tự nhiên chìa ra. Anh cắm cọc đánh dấu một hình chữ V khổng lồ, mũi nhọn hướng ra biển, miệng mở về phía bờ.
"Ngược đời," Chính nói. "Miệng phải hướng ra biển chứ?"
"Không. Cá vào bãi theo nước lên, tản ra ăn. Lúc nước rút, chúng đi ngược lại, ra biển. Mũi chữ V đón đường về của chúng." Nam gõ cọc. "Ở mũi thì để một khe hẹp, sau khe là một cái ao đá. Cá lọt vào ao, nước rút, ao còn nước, cá còn sống. Ta xuống nhặt."
Cả trại khiêng đá.
Đá tảng xếp làm chân, đá cuội chèn khe, và trên cùng là một hàng đá dẹt. Tường cao hơn đầu gối. Dài tổng cộng gần trăm mét.
Bà Tư và hai chị hành chính chuyền đá theo dây chuyền. Khang khiêng những tảng nặng nhất và không kêu một tiếng. Lộc đến muộn một tiếng, khiêng bốn tảng, rồi ngồi nghỉ và không đứng dậy nữa.
Se-ra đo. Cô đóng cọc ở mực nước lúc rút sâu nhất, cọc ở mực nước lên cao nhất, và đếm thời gian giữa hai lần bằng cách đếm nhịp.
"Sáu giờ hai mươi phút," cô nói. "Từ đỉnh xuống đáy. Không phải sáu giờ mười hai như tôi biết."
"Cô biết ở đâu ra sáu giờ mười hai?"
"Trái Đất." Se-ra ghi con số lên vỏ cây. "Một chu kỳ triều bán nhật là mười hai giờ hai mươi lăm phút. Chia đôi. Sáu giờ mười hai. Cái này lệch tám phút."
"Sai số đếm nhịp của cô là bao nhiêu?"
"Ba phút. Tôi đếm cẩn thận."
Nam gật. Anh không nói gì thêm, và tối hôm đó anh khắc con số tám phút lên mặt sau cái cọc mực nước.
Đến tảng đá cuối cùng thì trời sắp tối và không ai còn đứng thẳng lưng được.
Bùi Văn Chính ngồi xuống bên tường đá, thở dốc, hai bàn tay tướp máu ở gốc ngón.
"Kỹ sư này."
"Vâng."
"Tôi làm máy tàu hai mươi năm. Chưa bao giờ khiêng đá." Ông xoè tay ra nhìn. "Mà lạ, hôm nay tôi thấy trong người dễ chịu hơn hôm qua."
"Vì hôm nay bác biết mình làm cái gì."
"Chắc thế." Chính chép miệng. "Hôm qua tôi ngồi nhìn biển suốt buổi. Nghĩ đến ba đứa nhà tôi. Nghĩ nhiều quá thì đâm ra không thở được."
Nam ngồi xuống cạnh ông.
"Bác Chính, tôi cần một cái bễ."
"Bễ gì cơ?"
"Bễ thổi. Hai túi da, hai cái van, một ống dẫn. Thổi liên tục, không ngắt quãng."
"Da đâu ra?"
"Chưa có. Nhưng bác cứ nghĩ trước cái van đi." Nam nhặt một cái vỏ sò, vẽ lên cát một hình tròn với một nắp đậy lệch. "Van một chiều. Hút vào thì mở, đẩy ra thì đóng."
Chính nhìn hình vẽ. Ông cầm vỏ sò, xoá đi, và vẽ lại một hình khác.
"Thế này ăn hơn," ông nói. "Nắp treo, không nắp chốt. Ít kẹt."
Đó là lần đầu tiên trong ba ngày Nam thấy ông cười.
*
Trong lúc chờ nước, họ đan.
Vy tìm ra thứ dây leo có sợi dai, tước vỏ ngoài, ngâm nước một đêm rồi tước tiếp thành sợi nhỏ. Sợi ướt thì mềm, khô thì cứng lại và giữ nguyên hình.
"Đan kiểu gì?" bà Tư hỏi.
"Đáy trước, thành sau." Vy bắt chéo sáu sợi thành hình sao. "Cháu học ở quê bà ngoại. Đan rổ, đan nong. Bà ngoại cháu đan cả rổ xảo."
Bà Tư cầm lấy mấy sợi dây và bắt đầu đan. Bà đan nhanh gấp ba Vy và không nhìn tay.
Đến chiều họ có bốn cái rổ. Rổ thưa, nhưng đủ vớt cá.
Nam mang một cái ra bãi triều, dìm xuống vũng, thử vớt. Nước chảy thoát rất nhanh qua khe đan. Cá không thoát.
Anh mang rổ về, lật ngược lại, và nhìn cái đáy.
"Cái này đan dày thêm ba lần thì thành cái sàng," anh nói. "Sàng thì lọc được cát ra khỏi nước. Sàng nữa thì lọc được bột."
"Bột gì?" Vy hỏi.
"Chưa có bột. Nhưng sẽ có."
Trên đường về anh dừng lại ở một vũng nước đọng phía trong bãi. Mặt vũng phủ một lớp váng màu lam, mịn, dày như nhung ướt.
Vy quỳ xuống, vớt một ít lên lòng bàn tay, xoa giữa hai ngón.
"Vi tảo," cô nói. "Lam khuẩn. Cái này cố định đạm từ không khí."
"Nghĩa là gì?"
"Nghĩa là chỗ nào có nó thì đất chỗ đó giàu lên. Nông dân Nhật thả loại này vào ruộng lúa." Cô rửa tay. "Nếu sau này mình trồng cái gì, em cần chỗ này."
Nam cắm một cành cây xuống mép vũng.
*
Trưa ngày thứ năm, đồ ăn của tàu chạm đáy.
Bữa ấy là nồi cháo nấu từ bốn hộp thịt cuối cùng và chỗ bánh quy vụn cạo ra từ đáy thùng, loãng tới mức nhìn thấu đáy bát. Bà Tư chia bằng vỏ ốc, gạt ngang từng muôi một, và tay bà không run — nhưng hàng người xếp trước nồi thì có.
Buổi chiều, hai người đàn ông suýt đánh nhau vì một mẩu bánh quy rơi trên cát. Trân bước vào giữa, và vụ đó xong trong một phút, nhưng cả bãi đá đều đã nhìn thấy, và không ai quên.
Người khiêng đá phải nghỉ giữa chừng nhiều hơn. Thuỳ Dương đi một vòng quanh chỗ xây bẫy, bắt ba người ngồi hẳn xuống bóng râm vì cứ đứng dậy nhanh là tối sầm mặt.
"Còn bao lâu nữa thì bẫy chạy?" Trân hỏi.
"Mai," Nam nói. "Nếu con nước đúng như Se-ra tính."
"Nếu bẫy không ra cá?"
Nam không trả lời câu đó.
Đêm ấy anh nằm nghe tiếng bụng mình sôi, rồi nghe ra tiếng bụng của những người nằm quanh, tiếng nọ gối lên tiếng kia. Cái đói đông người hoá ra có tiếng động riêng của nó.
*
Chiều ngày thứ năm, Vy treo một tấm vỏ cây lên cột lịch.
Trên đó cô khắc tám dòng, đánh số từ một tới tám.
"Đây là luật ăn," cô nói to, đứng trên một tảng đá cho mọi người thấy. "Ai không theo đủ tám bước mà ăn bậy, tôi không cứu được."
"Đọc đi," Trân nói.
"Một: không ăn nấm, tuyệt đối, không bàn cãi. Hai: chọn cây mọc nhiều, tránh cây mọc trơ trọi một mình. Ba: tách riêng lá, thân, rễ, quả — có cây lá ăn được mà quả độc. Bốn: chà nhựa lên mặt trong cổ tay, chờ tám tiếng, có ngứa đỏ là bỏ. Năm: chạm lên môi, chờ mười lăm phút. Sáu: đặt lên lưỡi, không nuốt, chờ mười lăm phút. Bảy: nhai, nhổ ra, chờ tám tiếng. Tám: nuốt một miếng bằng đầu ngón út, chờ tám tiếng."
"Tám tiếng ba lần là hai mươi tư tiếng cho một cái lá," Khang nói.
"Đúng."
"Chúng ta đói bây giờ, không phải mai."
Vy nhảy xuống khỏi tảng đá. "Vậy cậu ăn thử đi. Tôi ghi tên cậu vào bảng cho."
Khang cười.
Tối đó, cậu ta ăn thật.
*
Quả màu đỏ, to bằng ngón cái, mọc thành chùm trên một bụi cây thấp ở rìa rừng. Ngọt. Khang ăn khoảng hai chục quả.
Hai tiếng sau, cậu ta nôn.
Thuỳ Dương tới lúc Khang đã nôn lần thứ ba và bắt đầu run.
"Nằm nghiêng." Chị đẩy cậu ta nằm nghiêng trái, kê đầu bằng áo cuộn. "Vy, quả đâu?"
Vy chạy đi, hái về một chùm.
Dương bổ đôi một quả bằng móng tay, ngửi, nhìn hạt.
"Hạt cứng, có vân. Cùi mỏng." Chị đưa cho Vy. "Em xem."
Vy nhìn rất lâu. "Em không biết cây này. Nhưng cấu tạo quả giống họ có glycoside. Nếu đúng thì hạt độc hơn cùi nhiều lần."
"Cậu ta có nhai hạt không?"
"Khang!" Vy quỳ xuống. "Có nhai hạt không?"
Khang lắc đầu, rồi gật, rồi lắc.
"Không nhớ."
Dương làm việc trong bốn tiếng tiếp theo. Chị cho Khang uống nước liên tục, từng ngụm nhỏ, ép cậu ta nôn thêm hai lần nữa, và ngồi cạnh cậu ta đếm mạch bằng đồng hồ của Se-ra.
Đến nửa đêm mạch ổn lại.
"Sống," Dương nói. Chị đứng dậy, và phải vịn vào vai Nam vì đứng lên quá nhanh. "Nếu cậu ta ăn thêm mười quả nữa thì tôi chịu."
"Chị cần gì?"
"Than." Dương xoa mắt. "Than gỗ nghiền mịn, uống với nước, hút chất độc trong ruột. Tôi cần nó, và tôi cần một cái nồi để đun nước cho sạch trước khi trộn."
"Ngày kia có nồi."
"Anh nói thế từ hôm kia rồi."
"Vâng." Nam nhìn xuống. "Ngày kia có nồi."
*
Buổi họp sáng hôm sau ngắn và khó chịu.
"Cắt khẩu phần của Khang ba ngày," Trân nói. "Một phần ba. Ai cũng thấy, ai cũng nhớ."
"Không." Nam ngồi trên phiến đá, tay đan vào nhau.
"Anh có cách khác?"
"Có. Bắt cậu ta làm gấp đôi." Anh ngẩng lên. "Cắt ăn của một người đang đói thì người đó yếu đi. Người yếu thì khiêng ít đá hơn, nhặt ít củi hơn, và ba ngày sau cả trại nghèo hơn đúng bằng phần chị vừa cắt. Chị phạt cậu ta bằng cách phạt tất cả chúng ta."
"Vậy anh để cậu ta ăn no rồi vẫn phá luật?"
"Không. Tôi bắt cậu ta trả bằng thứ chúng ta cần." Nam đứng dậy. "Sáu ngày gánh nước. Cả sáu hố, một mình. Ăn đủ phần, làm gấp đôi. Ai phá luật thì trả bằng công, không trả bằng máu."
Trân nhìn anh rất lâu.
"Ghi," cô nói với chính mình, và mở sổ ra. "Luật thứ bảy. Phạt bằng công."
Khang gánh nước sáu ngày, và trong sáu ngày đó cậu ta không nói chuyện với ai. Đến ngày thứ ba, Tuấn tự động ra gánh cùng, và Nam nhìn thấy nhưng không cấm.
*
Con nước rút lúc năm giờ chiều ngày thứ sáu.
Cả trại đứng trên bờ nhìn xuống.
Nước lùi dần, để lộ hàng đá xếp hình chữ V, rồi lộ tới cái khe hẹp ở mũi, rồi lộ ra cái ao đá phía sau khe.
Mặt ao sôi lên.
"Có!" Tuấn hét. "Có cá! Nhiều lắm!"
Người ta ào xuống. Nam hét bảo đừng chạy, không ai nghe, và Tuấn ngã sấp mặt trên rong trơn ngay bước thứ tư.
Trong ao có cá. Cá thân dẹt, bạc, dài bằng bàn tay, đông đến mức nước không còn chỗ. Có ba con mực. Có một con cá dẹt to bằng cái mâm nằm sát đáy.
Họ vớt bằng áo, bằng rổ đan vội, bằng hai bàn tay.
Bà Tư ngồi trên bờ đá, mổ cá bằng con dao duy nhất, và bà làm nhanh tới mức không ai theo kịp.
Bữa tối hôm đó là cá nướng.
Cá xiên que tre, nướng trên than, muối thì không có nên bà Tư rắc nước biển lên bằng vỏ ốc, từng chút một, khi cá đang nóng. Mỡ cá chảy xuống than, xèo lên, và mùi bốc khắp thềm đá.
Người ta ăn không nói. Có người ăn xong ngồi im, và có tiếng ai đó khóc ở phía sau, khóc kiểu no bụng.
Vy đưa cho anh trai một xiên.
"Ăn đi, kỹ sư trưởng."
Nam ăn. Cá ngọt, hơi tanh, và nóng tới mức bỏng lưỡi.
Anh ăn hết xiên đó, rồi đứng dậy đi ra chỗ đống cá còn lại.
Đống ấy cao tới đầu gối. Bốn mươi cân, có khi hơn. Đủ ăn ba ngày nếu để được ba ngày.
Anh cúi xuống, cầm một con lên, và ngửi.
Mang cá đã ngả sang màu nâu nhạt. Bụng mềm. Trời thì nóng, và ngoài kia ruồi đã bắt đầu đậu thành từng đám đen trên lớp vảy bạc.
"Bà Tư ơi," anh gọi. "Chỗ này để tới mai được không?"
Bà Tư không quay lại.
"Không, cậu ạ."
Bà quay lại, tay còn cầm con dao.
"Trời này, cá này, để qua đêm là chua. Sáng mai mổ ra là thối bụng. Cậu có ướp gì đâu."
"Ướp bằng gì thì được?"
"Muối." Bà Tư lau lưỡi dao vào vạt áo. "Muối, hoặc phơi thật khô, mà phơi thì cũng phải xát muối trước. Không muối thì chỉ có nướng hết trong đêm, ăn được bao nhiêu hay bấy nhiêu."
Nam nhìn đống cá.
"Nướng hết được không?"
"Được. Nướng hết thì mai mốc."
*
Se-ra tìm anh lúc gần nửa đêm.
Cô mang theo tấm vỏ cây ghi số, đặt xuống cạnh đống lửa, và ngồi xuống mà không hỏi.
"Tôi tính rồi," cô nói. "Hôm nay bắt được khoảng bốn mươi hai cân cá. Ăn hết sáu cân. Nướng cấp tốc được thêm mười cân. Còn hai mươi sáu cân sẽ hỏng."
"Hai mươi sáu cân."
"Đó là ba ngày ăn của hai mươi chín người. Chúng ta vừa vứt đi ba ngày." Cô gõ ngón tay lên tấm vỏ cây. "Và con nước lớn kiểu này chỉ có hai lần một tháng. Những ngày còn lại bẫy chỉ ra vài cân."
Nam kéo một khúc củi vào lửa.
"Vậy vấn đề không phải bắt được bao nhiêu."
"Vấn đề là giữ được bao nhiêu." Se-ra gật. "Anh làm được muối không?"
"Nước biển ba phần trăm muối. Một trăm lít nước biển cho ba cân muối. Đun thì tốn củi kinh khủng, phơi thì cần chỗ phẳng, nắng, và nồi." Nam nhìn vào lửa. "Cái gì cũng quay về cái nồi."
"Ngày kia."
"Ngày kia."
Se-ra đứng dậy, phủi cát. Rồi cô ngồi xuống lại.
"Anh Nam."
"Gì."
"Nếu ngày kia không ra nồi thì sao?"
Nam không trả lời ngay. Anh nhặt một xiên cá cháy dở còn sót lại trên vỉ đá, gạt lớp than đen ở ngoài, và cắn một miếng.
"Thì ngày kìa," anh nói.