Chương 2: Lão Bường sai gã câm đi đòi nợ
Thuộc tiểu thuyết Kiếm Gãy Sông Gianh
Tác giả: Lâm Giang · Thể loại: Võ Hiệp · Đăng ngày · 2082 từ · khoảng 10 phút đọc
Thứ hai là cái ống tre của tôi.
Nó đây, cháu khỏi ngó, chưa tới lúc. Hồi đó nó dài bằng ngón tay giữa của tôi, bây giờ tay tôi to ra thì nó chỉ còn bằng ngón út, bịt sáp ong hai đầu, xỏ dây đeo trong cổ áo, trong ống có một tờ giấy cuộn lại. Lão Bường nói tờ giấy đó đi theo tôi từ hồi tôi chưa biết bò, là thứ duy nhất tôi có mà không phải của lão.
Mỗi năm một lần, vào rằm tháng Giêng, lão gọi tôi lại, thò tay vào cổ áo lấy cái ống, cất vào túi trong, tối mới lôi ra cạy sáp, giơ tờ giấy ra xa và đọc cho tôi nghe. Năm tôi 7 tuổi lão đọc: "Con bé này tên Đượm, cha nó đi buôn ở bờ bắc, sẽ có ngày về đón." Đọc xong lão hơ sáp bịt lại, trả cho tôi, trừ 1 đồng công đọc vào sổ.
Tôi nghe như thế suốt 6 năm, và đứa trẻ không có gì để nghĩ thì nghĩ rất kỹ. Năm 9 tuổi lão đọc "đi buôn", năm 11 tuổi lão đọc "đi làm ăn", năm 12 tuổi lão đọc tới chữ "cha" thì ngừng một chút, ngón cái gảy một cái rồi mới đọc tiếp. Tôi hỏi sao năm nay khác năm ngoái, lão bảo giấy để lâu chữ nó phai, tao đọc theo ý. Tôi hỏi phai thì sao còn tính 1 đồng, thế là lão cười, cái răng cửa đen thui, lần duy nhất tôi thấy lão cười vì tôi.
Từ đó tôi biết người ta không đổi lời khi đọc một tờ giấy, trừ khi trong giấy có cái gì đó họ không muốn đọc.
Nhưng biết thì làm được gì, cả bến chỉ có một người đọc được chữ và người đó là lão. Cho nên chiều hôm đó, thấy một thằng cha câm có cả xấp giấy với thỏi mực, tôi không nghĩ tới võ công gì sất. Tôi nghĩ: cái người đọc của tôi tới rồi đây.
Tôi bưng bát cháo ra hiên quán lúc trời chạng vạng, ghi nợ 3 đồng. Ông ta ngồi xếp bằng, áo vén lên, tự đắp một ít gì đó lên mạn sườn, chỗ đó đã tím lại to bằng bàn tay. Tôi đặt bát xuống rồi không đi, ngồi luôn lên bậc thềm.
"Ông thiệt không nói được à?"
Ông ta ngó tôi một cái, rồi húp cháo.
"Tui hỏi vậy thôi chứ tui biết rồi, tui mất 2 đồng chứ ít à. Cái lưỡi câu cũng là tui móc, ông có giận thì vẫn phải trả tiền cháo." Tôi chờ, không thấy gì. "Ông đọc được hết chữ à? Giấy người khác viết ông đọc được không, hay chỉ đọc được giấy ông viết? Đọc một tờ ông lấy bao nhiêu?"
Ông ta để bát xuống. Mắt ông có một vẻ mà tới giờ tôi cũng không biết gọi thế nào, chắc là mệt. Ông nhặt một que tre, gạt phẳng ít tro chỗ bếp cũ, viết lên đó mấy nét, rồi chỉ cho tôi xem.
Tôi xem. Trông như gà bới.
Tôi ngó ông ta, ông ta ngó tôi, và tới lúc đó ông mới hiểu, hay ông hiểu từ đầu mà vẫn thử, tôi không biết. Cháu tưởng tượng cái cảnh đó đi: hai đứa ngồi ở hiên quán, một đứa có miệng mà không có chữ, một người có chữ mà không có miệng, hỏi nhau cả buổi không ai trả lời ai được câu nào.
Ông lấy tay xoá đám tro.
Tôi về bếp nhưng không ngủ. Tôi có một chỗ dưới mái ngó ra được cái hiên, và nhờ chỗ đó mà tôi biết nhiều chuyện trên bến. Lúc trăng lên, tôi thấy ông lấy thanh kiếm đặt lên gối, thấm nước, cầm một viên đá đen nhỏ bằng hai ngón tay chà theo một chiều, từ chuôi ra chỗ gãy, tiếng thép trên đá trong đêm vắng nghe rất đều. Mài được một lúc ông dừng, vuốt ngón cái dọc theo lưỡi y như lúc nãy cháu làm, dừng lại ở từng chỗ, có chỗ chạm lâu hơn. Tôi đếm được 7 chỗ.
Sau đó ông lấy xấp giấy ra đếm, đếm hai lần, rồi nằm xuống gối đầu lên bọc, mắt mở, và cái tay đặt trên tấm ván bắt đầu gõ.
Lúc đầu tôi tưởng ông đau nên co giật, rồi tôi nghe kỹ. Hai ngón, nhẹ, gõ xuống ván, một, hai, nghỉ, ba, một, hai, nghỉ, ba. Tôi đang nằm mà cái tay tôi tự nhấc lên theo.
Đó là nhịp mái của đò lớn. Trẻ con bờ tôi học nó trước khi học nói, ông Sáu Mái đập vào gáy tôi từ năm 7 tuổi để tôi vào đúng cái nhịp ấy, một, hai, kéo, thở. Người ta có thể gõ tay vì lo, vì buồn, nhưng người trên đất không gõ nhịp đó. Ông nằm gõ gần tới nửa đêm, ngón tay cứ đi một mình, mắt thì mở nhìn lên mái.
Sáng hôm sau, ngày hai mươi mốt, nước đậm thêm một chút, lão Bường cho gọi ông ra chõng từ sớm. Tôi có việc phải lau tráp, và tôi lau rất lâu.
"Tính cho đủ đã," lão nói. Lão nói câu đó trước mỗi việc, trước lúc mua gạo, trước lúc chôn người. "Anh còn 33 đồng sau khi nộp lệ, nợ thêm bát cháo là 3, tiền đò 50, anh thiếu 20. Anh khuân muối thì chiều mai đủ, nhưng thuyền muối hôm nay về, mai bến hết việc, mà đò lớn của tôi chạy tới hai mươi lăm là kéo lên ụ tránh nước, số chỗ còn lại tôi đã bán hết, có người trả 70 đồng để được xếp trước, tôi không giấu. Anh hiểu chưa. Theo phép tính thì anh không qua được sông ở bến của tôi."
Ông đứng yên, hai ngón tay trên đùi thôi gõ.
"Cho nên tôi có một món. Ở bến Dưới, xuôi dòng nửa ngày chèo, có một người nợ tôi 3 quan, nợ 12 năm rồi. Tôi cho đám thằng Chột đi đòi 2 lần, về tay không. Tôi già rồi, món đó không đòi được thì tôi mang xuống mồ, mà sổ của tôi không cho phép có chuyện đó. Anh có võ, anh lại không nói được nên không bị người ta năn nỉ, thế là hay. Đòi được về thì đò lớn của tôi có một chỗ cho anh, tôi tự bớt một người, không lấy tiền đò, xoá luôn bát cháo."
Tôi lau cái tráp mà tai dựng lên. 3 quan là 1.800 đồng kẽm, và lão Bường sống 56 năm chưa bao giờ giao một món 1.800 đồng cho người lạ.
Ông nhìn quanh tìm cái que, nhưng lão Bường đã đẩy tới một tấm ván kê sổ. "Viết giấy. Giao kèo với tôi thì phải có giấy, tôi lưu." Tôi thấy ông do dự trước khi rút tờ giấy, rồi ông viết:
*Người đó tên gì. Tôi nhận.*
Lão giơ ra xa đọc, rồi để tờ đó xuống tráp ngay dưới tay tôi. Tờ thứ tư của ông đó, cháu đếm cùng tôi, còn 16 tờ.
"Mụ Thìn, nhà ngoài cùng bến Dưới. Mụ già rồi mà cái miệng còn sắc lắm. Con Đượm sẽ chở anh, nó biết đường, nó lại nói được, người ta nói gì thì nó nói lại, còn anh muốn nói gì thì..." Lão ngừng, ngó tôi, ngó ông, như vừa tính ra một cái gì đó buồn cười. "Thì thôi, anh tự tính."
Hai ngón tay trên đùi ông co lại, tôi tưởng ông bực vì câu đùa.
Trước khi xuống đò lão gọi riêng tôi vào sau kho.
"Mi đi theo hắn. Hắn gặp ai, viết gì, mi nhớ về nói ta. Hắn đưa giấy cho ai thì mi nhớ cái hình chữ, về vẽ lại. 2 đồng một ngày, ghi sổ."
"3 đồng."
"2. Mi đọc được chữ à mà 3."
Tôi nhận 2 đồng. Sáng hôm đó tôi vừa bán ông câm cho lão Bường, mà lúc xuống đò tôi đã tính bán lão Bường cho ông câm rồi.
Con đò nan của tôi chở hai người là chật. Tôi đẩy ra, thả theo dòng, chờ tới khi bến Vạn chỉ còn bằng cái nong. Ông ngồi giữa đò, một tay ôm mạn sườn, thanh kiếm gác ngang đùi. Tôi cất mái lên.
"Ông nghe nè. Lão Bường bảo tui làm miệng cho ông, nhưng làm miệng cũng có nhiều kiểu. Ông viết cái chi tui đâu đọc được, ông ra hiệu cái chi thì tui hiểu thế nào tui nói lại thế. Mụ Thìn hỏi ông câu gì, tui nói mụ nghe ông bảo không trả, mụ đuổi ông ra thì ông cũng chịu. Đúng không?"
Ông nhìn tôi, thế là tôi biết ông có nghe.
"Tui lấy giá rẻ. Mỗi ngày ông dạy tui một chữ, trên mạn đò cũng được, không tốn giấy của ông. Tui đọc được thì ông đỡ phải ra hiệu, ông có lợi hơn tui."
Ông lắc đầu.
"Hai ngày một chữ."
Ông lắc đầu, rồi lấy ngón tay nhúng xuống sông, viết lên thành đò con số 50. Số thì người bến ai cũng biết vạch.
"Một chữ 50 đồng?" Tôi suýt rơi mái. "Ông thiếu tiền đò mà đi bán chữ 50 đồng! Ông biết lão Bường đọc giùm người ta có 1 đồng không?"
Ông nhìn tôi, cái mặt không có gì, nhưng tôi có cảm giác ông đang chờ xem tôi trả giá tới đâu, và thế là tôi nóng mặt. Cái người này mới biết tôi được một ngày mà đã mặc cả với tôi, bằng ngón tay ướt, trên thành đò của tôi.
"Ông tưởng ông có giá lắm à? Tui thấy ông cao, gầy, thiếu tiền và không kêu được. Tui chỉ cần chèo cho đò nghiêng là ông xuống sông mà không gọi được ai. Ông tính xem."
Nói xong tôi mới thấy mình hơi quá. Ông nhìn tôi, rồi một bên mép ông động. Cả đời ông ấy tôi đếm được chưa tới 20 lần cái mép đó động, và lần đầu là lúc một con bé doạ đẩy ông xuống sông.
Ông thò tay xuống nước, viết lên thành đò, lần này chậm, từng nét, chữ to bằng bàn tay. Viết xong ông chỉ vào đó, rồi gỡ cái bọc chỉ vào một vết trên lưỡi kiếm, chỉ chữ, chỉ vết, chỉ chữ, chỉ vết. Mặt trời lên, nét nước trên gỗ khô dần từ ngoài vào, tôi nhìn thật nhanh, như nhìn mặt người ta định nhớ để đòi nợ.
Đó là chữ đầu tiên tôi biết trong đời, tới giờ tôi vẫn viết nó đẹp nhất. Nợ.
Đoạn sông sau đó gió ngược, tay tôi mỏi dần. Ông chạm vào vai tôi, chỉ cái mái, và tôi đưa, để xem cái thằng cha cao lêu đêu ấy ngã xuống sông ra sao.
Ông đặt mái vào cọc, thả xuống nước, kéo. Mái không tóe một giọt, con đò của tôi tự dưng đi thẳng như có người kéo dây, mà ông đang bị đau bên sườn, mồ hôi ướt thái dương. Một, hai, nghỉ, ba.
"Ông là dân sông à?"
Ông không nhìn tôi, lắc đầu, mái vẫn đều.
Tới bến Dưới vào đầu giờ chiều. Bến Dưới nhỏ, toàn lưới phơi, mùi cá, hơn chục mái nhà thấp lè tè. Tôi chỉ cái nhà ngoài cùng, mái rạ xám ngắt, có bà già nhỏ tí ngồi trước cửa, hai chân kẹp lưới. Tôi bảo đó, mụ Thìn đó, ông có đòi thì đòi đi, tui đứng sau, có gì tui chạy trước.
Ông ngồi yên trên đò, không đứng lên, tôi tưởng tại cái sườn.
Rồi ông tháo bọc, kéo thanh kiếm ra một đoạn, đặt ngón cái vào vết mẻ gần chỗ gãy nhất, vết sâu nhất, giữ ngón tay ở đó và nhìn cái nhà rạ. Ông lấy tay kia nhúng nước, viết lên thành đò đúng cái chữ lúc sáng, và ngay dưới nó, một vạch.
Tôi nhìn chữ đó, nhìn vết mẻ, nhìn cái bà già đang đan lưới.
Tôi đọc được đúng một chữ trên đời, nhưng tôi đọc được.
Lão Bường sai ông đi đòi một món nợ, và người lão sai đòi chính là người ông đang nợ.