Chương 3: Mụ Thìn đòi một cái tên

Thuộc tiểu thuyết Kiếm Gãy Sông Gianh

Tác giả: · Thể loại: Võ Hiệp · Đăng ngày · 2124 từ · khoảng 11 phút đọc

"Đi về."

Đó là câu đầu tiên mụ Thìn nói với chúng tôi, mụ không ngẩng lên, hai bàn chân kẹp mép lưới, mấy ngón tay đan nhanh tới mức tôi không nhìn kịp. Người mụ bé tí, lưng gập, chỉ còn cái đầu với hai bàn tay là còn sống.

"Mệ ơi, con ở bến Vạn, lão Bường sai..."

"Tau biết lão sai. Mi là đứa thứ ba lão sai trong 12 năm, hai đứa trước có dao. Về bảo lão, tau có 3 quan thì tau chết sớm rồi." Mụ ngẩng lên, một mắt đục như lòng trắng trứng, mắt kia đen láy, và con mắt đen ấy nhìn qua vai tôi, lên trên, lên cao. "Thằng mô cao rứa?"

Tôi quay lại. Ông câm đã đứng sau tôi từ lúc nào, và ông vừa làm một việc tôi không ngờ. Ông bỏ cái bọc khỏi vai, đặt hai tay xuống đất trước thềm nhà mụ, thanh kiếm gãy nằm đó trần trụi, rồi ông quỳ xuống, cúi đầu ba lần.

Tôi đứng há mồm. Làm miệng cho ông mới được nửa ngày, tôi không biết phải dịch cái này thế nào.

"Ông ấy nói..." tôi nói. "Ông ấy nói chào mệ."

Mụ Thìn không nghe tôi. Con mắt đen đã rơi xuống lưỡi kiếm, hai bàn tay mụ dừng lại, lần đầu tôi thấy nó dừng, và nó dừng thì cả người mụ chỉ còn là một đống lưới. Mụ nhìn lâu lắm, lâu tới mức tiếng lũ trẻ ngoài bãi nghe rõ mồn một.

"Mi là chi của lão Giữ Mạn?"

Ông ngẩng lên, chỉ vào lưỡi kiếm, chỉ vào ngực mình, chắp hai tay lại như người đọc sách, rồi cúi đầu. Tôi lanh hơn tôi tưởng, tôi la lên:

"Học trò! Ông ấy là học trò ông Giữ Mạn đó mệ!"

Rồi chính tôi đứng ngẩn ra vì câu mình vừa nói.

Cháu người xứ khác nên tôi phải dừng ở đây giải thích, chứ ở cái khúc sông này, ông Giữ Mạn là chuyện đứa trẻ nào cũng nghe trước khi biết đi.

Chuyện kể thế này. 12 năm trước, nước lớn về sớm hai ngày, đêm hai mươi chín tháng Tám. Chuyến đò cuối của lão Bường đón người chạy lũ ở bờ bắc, chỗ trên cao, trời tối, mưa, đò đầy tới mạn, vừa rời bến thì nước cuốn đi không ghé được đâu, trôi xuống tận Vũng Chìm, cái khúc xoáy mà tới giờ người ta qua đó vẫn phải thả một nắm gạo. Đò bị nước đánh nghiêng, người ta khóc la chen nhau sang một bên, chỉ thêm một nhịp là lật. Trên đò có một thầy đồ có võ tên Ngạn, được Bảy Bến thuê giữ đò, ông đứng ra mạn, quát cả đò ngồi yên, người nào theo chỗ người nấy, và chính tay ông giữ cho con đò thăng bằng suốt một đêm trôi, tới sáng thì dạt vào bến Vạn. 43 người sống sót, trong cơn lũ mà người ta bảo không con kiến nào qua nổi. Từ đó người ta gọi ông là ông Giữ Mạn, trẻ con bến tôi chơi trò Giữ Mạn, đứa nào được làm ông thì đứng lên mũi đò cầm cái que, tôi từng đánh nhau để được làm.

Giữ mạn nghĩa là vậy, cháu ghi vào: đứng ở thành đò, giữ cho đò khỏi nghiêng, khách khỏi chen. Một cái việc mà thành tên một người, và người đó thành ông Bụt trong chuyện kể.

Bây giờ học trò của ông Bụt đang quỳ trước cái thềm nhà nát ở bến Dưới, và trong đầu tôi ngay lúc đó chỉ có một ý nghĩ, cháu chép nguyên văn: trời ơi, cái thằng cha này có giá hơn tôi tưởng, phải đòi thêm tiền.

Mụ Thìn móm mém nhai cái gì đó không có trong miệng.

"Lão Giữ Mạn chết rồi, nghe nói."

Ông gật.

"Chết ở mô?"

Ông chỉ lên phía núi, phía bờ bắc. Rồi ông nhặt một que củi, gạt phẳng đất trước thềm.

"Khỏi," mụ nói. "Tau không biết chữ. Con kia, nó muốn nói chi?"

Tôi không biết. Tôi nhìn xuống đất, và ông viết đúng một chữ, to, cái chữ duy nhất tôi biết trên đời, rồi chỉ que củi vào mụ.

"Ông ấy nói..." Tôi nuốt nước bọt. Làm miệng cho người ta là thế, đôi khi người ta đưa cho mình một chữ, và mình phải dựng cả cái nhà. "Thầy ông ấy nợ mệ. Ông ấy tới trả."

Mụ Thìn phì ra một tiếng, tôi không biết đó là cười hay ho.

"Thầy mi nợ tau."

Mụ để cái lưới xuống, không đứng dậy mà bò, tay chống đất, nhanh lạ thường, vào trong nhà rồi ngoái ra cửa, ý gọi. Tôi và ông câm cúi đầu chui vào. Nhà tối, mùi lưới cũ với mùi khói, sát vách có một cái kệ tre, trên kệ không có gì ngoài một cái bát sành mẻ đựng ít gạo, cạnh đó là cái đĩa con với mấy hạt muối.

"Đó," mụ nói. "Ông nhà tau đó."

Tôi không hiểu. Nhà ai cũng có bàn thờ, bến tôi nghèo cũng ráng có tờ giấy đỏ, có cái bài vị, người ta mời thầy cúng ở chợ viết tên người chết lên đó, 1 quan một lần. Cái kệ này chỉ có cái bát.

"Ông nhà tau chết đêm nước lớn năm đó, người không về. Lão Bường cho tau vay 3 quan làm đám gọi hồn, thầy cúng đọc lung tung một hồi, viết cái tên vào tờ giấy, đốt mất, hết tiền. Tau không có tiền thuê viết cái khác, mà cái bến ni đứa mô biết viết? 12 năm tau cúng ông ấy bằng cái bát. Mỗi rằm tau gửi thuyền ngược một nắm gạo, thả ở Vũng Chìm, dặn người ta gọi ông ấy về ăn. Mà tau sợ lắm mi nghe không. Ngoài đó người ta thả gạo đông, hồn nhiều, gọi Thìn ơi Thìn, biết đâu cũng có ông Thìn khác. Không có cái tên viết ra thì ông ấy biết chỗ mô là chỗ của ông ấy?"

Mụ nói một mạch bằng cái giọng người ta nói chuyện cá hôm nay rẻ. Tôi đứng đó không có gì để nói, và chuyện đó chưa từng xảy ra với tôi.

"Thầy mi nợ tau một cái chi, thầy mi biết, tau biết, tau không nói. Mi đem tiền tới tau đổ xuống sông." Mụ quay con mắt đen lên nhìn ông câm. "Mi biết viết thì viết cho tau cái tên."

Tôi quay sang định nói lại, rồi thấy khỏi cần, vì ông đã quỳ xuống trước cái kệ, lấy túi vải dầu ra. Từ đó tôi thấy ông làm một việc tôi chưa thấy người nào làm, về sau ông còn làm nhiều lần, và chưa lần nào tôi nhìn mà không đứng yên.

Ông mài mực. Lúc viết cho gã Chột thì mài bằng nước bọt, viết trên đầu gối, còn lần này ông xin nước, tôi bưng tới một cái đáy bát vỡ, ông rửa tay trước, rửa từng ngón. Ông mài lâu, thỏi mực chạy tròn trong mảnh sành, không nhanh không chậm, cho tới khi mực đặc lại đen bóng. Rồi ông chọn từ giữa xấp ra tờ giấy phẳng nhất, dùng bàn tay vuốt nó lên tấm ván, chấm bút, ngẩng lên nhìn mụ, tay kia đưa ra hỏi.

"Tên," tôi nói. "Tên đầy đủ. Thìn à mệ?"

"Ừ, Thìn. Họ Lê. Lê Văn Thìn. Tuổi Thìn nên đặt tên Thìn, nhà nghèo đặt cho tiện."

Bút xuống. Tôi đứng sau lưng nhìn, lúc đó tôi chưa biết gì về chữ, chỉ biết cái tay ông đi rất chậm, cánh tay không động mà như cả người ông chuyển qua đầu ngọn bút. Ba chữ. Cuối mỗi nét có một cái móc nhỏ, rất nhỏ, như cái ngạnh ở đầu lưỡi câu. Mực đen, giấy vàng, cái nhà tối, và hình như ba chữ đó sáng hơn mọi thứ xung quanh, chắc tại tôi nhìn lâu quá.

Ông thổi nhẹ cho khô, nâng hai tay đưa cho mụ.

Mụ cầm ngược. Ông với tay xoay tờ giấy lại, rất nhẹ. Mụ đưa nó tới sát con mắt đen, rồi lấy ngón tay cái đầy vết cứa của dây lưới sờ lên mấy nét mực như sờ mặt đứa nhỏ.

"Con kia," mụ nói, không ngẩng lên. "Mi có đọc được không. Đây có phải tên ông ấy không?"

Tôi đọc được đúng một chữ, và chữ đó không nằm trên tờ giấy này.

"Dạ phải," tôi nói. "Lê Văn Thìn. Con đọc rõ lắm."

Đó là câu dối đầu tiên của tôi trong nghề làm miệng, cháu ghi lại. Ông câm liếc tôi một cái.

Mụ gật đầu, cứ ngồi nhìn ba chữ đó, môi động, tới một lúc mụ nói, nhỏ thôi, không phải nói cho chúng tôi nghe.

"32 năm ăn ở với nhau, chừ mới thấy mặt tên ông ấy. Trông cũng gầy."

Tôi đi ra ngoài, tôi nói là tôi đi xem đò.

Tôi đứng ở bãi cho tới khi cái mũi hết cay rồi mới quay lại, vì tôi còn phải đòi 3 quan. Mụ đã dựng tờ giấy vào vách sau cái bát, lấy hòn đá nhỏ chặn lại, và giờ đang nói với ông câm bằng cái giọng chua y như cũ.

"Giấy còn thừa khoảng trắng dưới kia, ai cho phí. Viết thêm một cái tên nữa, tên tau, tau chết không ai viết. Tí. Lê Thị Tí. Cả đời người ta gọi tau bằng tên ông ấy, không đứa mô ở bến ni biết tau tên Tí, mi mà kể tau vặt lưỡi... à quên, mi có đâu. Con kia thì tau vặt."

Ông viết thêm ba chữ nữa, cái mép động một cái, đó là lần thứ hai. Tờ giấy đó lấy từ xấp, cháu đếm cùng tôi nhé, còn 15 tờ.

Đêm đó chúng tôi ở lại. Mụ cho ăn cơm với cá khô, không ghi nợ, cũng là bữa cơm đầu đời tôi ăn mà không ai ghi nợ. Giữa bữa mụ hỏi tôi về lão Bường, hỏi lão còn ho không, đêm có ngủ được không, tóc đã bạc hết chưa, hỏi kỹ từng cái mà giọng thì đầy chê bai. Tôi bảo lão khoẻ, lão vẫn gảy tay tính tiền cả lúc ngủ. "Ừ," mụ nói, gắp miếng cá khô to nhất bỏ vào bát ông câm. "Lão đó chưa chết được đâu. Người như lão phải sống cho hết sổ." Tôi hỏi mụ với lão có thù gì không, mụ bảo ăn đi, con nít hỏi nhiều mọc mụn. Ông câm ăn hết miếng cá, đặt đũa ngay ngắn, rồi lấy tay gom mấy hạt cơm rơi trên chiếu bỏ vào miệng, và con mắt đen của mụ nhìn cái tay đó một lúc lâu.

Sau bữa cơm ông ngồi ra thềm, lấy viên đá đen, thấm nước, đặt thanh kiếm lên gối, nhưng lần này không mài dọc lưỡi như đêm qua. Ông đặt đá ngay đúng chỗ vết mẻ đầu tiên và mài vào đó.

Muốn phẳng một vết mẻ thì phải mài mất cả một khúc lưỡi hai bên nó, mài xuống cho bằng đáy vết, mà thép đó cứng lắm. Ông mài từ lúc chập tối tới lúc trăng lên quá ngọn dừa, tôi ngồi xem rồi ngủ gật rồi tỉnh dậy vẫn nghe cái tiếng đó, xè, xè, xè, đều như nhịp thở. Mụ Thìn cũng không ngủ, mụ ngồi trong cửa, không nhìn ra, chỉ nghe.

Tới lúc ông rửa lưỡi kiếm đưa lên trăng, ngón cái vuốt qua chỗ đó không còn vấp nữa, tôi lại đếm. Còn 6 vết chưa mài.

Ông thở ra. Người ta trả xong nợ thì nhẹ người chứ, tôi thấy lão Bường trả nợ bao giờ cũng nhẹ người. Ông thì nhìn chỗ vừa mài như nhìn một cái răng vừa nhổ.

Tôi bò tới gần mụ Thìn.

"Mệ. Còn cái 3 quan của lão Bường, con về nói răng?"

"Bảo lão, tau nợ lão 3 quan, lão nợ tau cái khác, lão muốn tính thì tính cả hai." Mụ cười không ra tiếng. "Lão biết. Cái lão đó cái chi cũng ghi sổ."

Rồi con mắt đen quay qua nhìn tôi lâu, không nhìn mặt, mụ nắm lấy tay tôi lật ngửa ra, bóp bóp mấy ngón.

"Tay mi to hè. Con gái mà tay to rứa." Mụ thả tay tôi ra, quay đi. "Ngủ đi, mai đi sớm. Từ chiều có một thằng áo trắng đi khắp bến, trả tiền cho đàn ông hát."