Chương 3: Mảnh men dính sáp
Thuộc tiểu thuyết Mười Một Việc Của Con Gái Vợ Lẽ
Tác giả: Thảo Chi · Thể loại: Ngôn Tình · Đăng ngày · 2133 từ · khoảng 11 phút đọc
Cháu uống nước đi, chè này chát nhưng thật. Bà để ý cháu cứ liếc cái ghế đang ngồi. Ông nhà bà là ai à? Cháu đến đòi nợ mà lại hỏi chuyện chồng người ta. Chưa đến đoạn ấy. Năm bà mười ba tuổi thì chuyện đó không có trong đầu bà, và cũng không nên có. Cháu ghi việc của cháu đi.
Buồng thêu nhà quan Tham quay về hướng đông, ba mặt cửa bức bàn, chiều nào các cô cũng ngồi đấy từ giờ Mùi. Mẹ cả ngồi đầu chiếu, tựa vào cái gối xếp, không thêu. Bà nghe cô Hai đọc sổ. Bà bảo con gái lớn phải biết việc nhà, sắp đi lấy chồng rồi, nên chiều nào cô Hai cũng phải ôm quyển sổ chi ra đọc cho mẹ nghe từng dòng, đọc sai là phải đọc lại. Cô Hai ghét việc ấy lắm, đọc bằng cái giọng của người bị bắt uống thuốc. Cô Ba ngồi cạnh cửa, cúi đầu, mười lăm tuổi mà thêu con hạc đẹp tới mức người ta không dám dùng. Cô Tư ngồi chỗ gần đĩa bánh nhất. Tôi được xếp ngồi cuối chiếu, sát góc, cách mẹ cả đúng năm bước, và cái khung thêu nhà ngang của tôi chỉ có một bông hoa bảy cánh.
— Em ăn không? Không ăn chị ăn. Bánh nướng này nhân thập cẩm đấy, mai Rằm rồi, nhà bếp nướng thử ba mẻ, chị nếm cả ba mẻ để biết mẻ nào ngon cho mọi người, thế mới là thương người.
Đấy là chiều mười bốn. Mẹ cả mắt khép hờ, cô Tư ngồi cuối chiếu sau lưng khung thêu của cô Ba, vừa cho miếng bánh thứ tư vào miệng, thì giọng mẹ cả từ đầu buồng đưa xuống, không nhanh không chậm:
— Cô Tư lau mép đi. Vụn rơi lên chỉ rồi đấy.
Cô Tư giật bắn, tay quệt lên miệng, nhìn tôi, thì thầm rằng mẹ có mắt sau gáy, chị nói thật, từ bé chị đã biết rồi, chị giấu bánh ở đâu mẹ cũng thấy. Cả nhà này ai cũng tin như thế, người làm tin, các cô tin, tôi cũng tin suốt hai đời. Mẹ cả có mắt sau gáy.
Trưa mười lăm tôi mới nghĩ ra phải làm thế nào.
Đời trước, tối Rằm, cả nhà ra sân trông trăng, có mấy nhà khách quen tới. Cô Hai được giao cắm hoa quế vào cái bình men lam của mẹ cả, thứ của hồi môn nhà họ Phạm, để trên án gian giữa. Cô ấy bưng cái bình từ buồng ra, tay còn dính sáp ong vì vừa bôi tóc, và bình trượt khỏi tay ở khúc hành lang tối. Con Mận đang bê khay đèn đi qua. Cô Hai kêu lên đúng một câu, và con Mận, mười bốn tuổi, răng khểnh, bị đuổi ngay sáng hôm sau, không có tiền công, đi đâu tôi không biết. Nó là cháu ruột vú Đãi. Cả tháng sau vú Đãi đi lại trong bếp mà không nói với ai quá ba tiếng.
Ai cũng được thôi, cháu ạ, tôi không hứng thú gì với con Mận. Nhưng tôi vừa học được một bài từ hôm trước: mình mà đổi việc gì thì có người rơi vào, nên ít ra lần này tôi phải biết ai rơi vào trước khi đổi. Tôi đã nghĩ suốt từ chiều hôm trước. Giờ Tuất mà không có con Mận ở hành lang thì cô Hai vẫn đánh rơi, và không còn ai để đổ. Khi ấy cô ấy phải nhận, mà cô Hai có nhận thì cũng chỉ bị mắng, không ai mất gì ngoài một cái bình. Tôi thấy mình thông minh quá.
Chiều ấy dưới bếp cả đám trẻ người làm được chia vỏ bưởi. Tôi cắt cho bé Tí một cái đèn bằng vỏ bưởi khoét lỗ, cắm mẩu nến thừa xin của vú Đãi. Nó ôm đèn đi quanh cái sân bếp, miệng đọc bài đếm của nó, chị Thắm đứng ở cửa chái nhìn con, hai tay ôm cánh tay mình, cười được một cái rất nhỏ, cái cười đầu tiên từ hôm giỗ.
— Cô Năm thương nó quá, chị bảo. — Bố nó mất lúc nó mới biết bò. Nó ôm chân ai là người ấy thành bố nó, cô đừng cười.
Tôi không cười. Tôi cắt thêm cái thứ hai, cho có việc làm với hai bàn tay.
Chập tối tôi xin mẹ một cái bánh nướng, phần của nhà ngang được đúng hai cái, bưng ra tìm con Mận:
— Cô Tư sai chị đem cái bánh này ra cổng sau cho ông Dậu, ông ấy ho không vào được. Đi ngay kẻo nguội. Rồi ông ấy nhờ gì thì giúp ông ấy một tay, cô Tư bảo thế.
— Con lạy cô, con đang bê đèn...
— Để đấy tôi bê.
Nó chạy đi, không biết đi bộ là gì. Cô Tư sai bao giờ đâu, nhưng cô Tư thì có sai cả làng cũng chẳng ai lạ. Tôi đặt khay đèn xuống cái kỷ đầu hành lang, tính đi ra sân. Giờ thì chỉ cần đi khỏi đấy.
Cháu đoán được rồi phải không. Cháu thông minh hơn bà năm mười ba tuổi, tức là bà năm hai mươi tuổi.
Tôi đang bước tới cửa thì sau lưng có tiếng vỡ. Không to lắm. Một tiếng kêu đanh rồi nhiều tiếng lách cách nhỏ lăn trên gạch. Hương quế thoảng ra. Tôi quay lại. Cô Hai đứng giữa hành lang, tay còn giơ ra đỡ cái không khí, dưới chân là những mảnh men xanh trắng, nước loang tới gót dép. Mười sáu tuổi, mặt đẹp như tranh, trắng bệch đi trong ánh trăng hắt qua song. Rồi cô nhìn quanh. Tôi thấy mắt cô ấy đi tìm, đúng cái cách chị Thắm đã nhìn quanh tìm một người để hỏi, chỉ khác là cô tìm một người để đưa ra. Hành lang vắng tanh. Không có con Mận. Chỉ có cái khay đèn trên kỷ, và tôi.
Tôi thấy nó đến. Tôi thấy nó đến trước khi cô ấy mở miệng, và cháu biết bà đã nghĩ gì không? Bà nghĩ, à ra thế. Cái chỗ ấy phải có một người đứng. Mình lôi người này ra thì chỗ trống vẫn còn đấy và nó hút người đứng gần nhất. Cái nhà này chỉ có ngần ấy phần, phần oan cũng thế.
— Mày, cô Hai nói. Cô ấy nói nhỏ, cổ họng run. — Mày làm đổ. Mày chạy qua, mày va vào tao.
Nếu là đời trước, tôi đã khóc. Hai tuần trước khi chết tôi còn khóc vì bát cơm nguội. Nhưng tôi vừa bị bàn tay mẹ cả đặt lên đầu gối hôm qua, tôi biết mình đã lộ một nhịp, và tôi biết có một thứ đáng giá hơn việc được oan hay không oan. Tôi đi lại, ngồi xuống, nhặt một mảnh men lên, đặt vào lòng tay rồi đưa lên mũi ngửi, cho cô ấy thấy. Mảnh ấy dính một vệt bóng. Sáp ong thơm thoang thoảng.
— Thưa chị Hai, em làm đổ, em nhận.
Cô ấy há miệng ra. Cô chờ tôi cãi, chờ tôi kêu, đã chuẩn bị cả một trận.
— Em chạy qua, em va vào chị. Em nhận trước mặt mẹ cả, không nói thêm chữ nào. Chị Hai có con mắt, chị biết con vợ lẽ nhận thì nhẹ hơn con sen nhận, nhẹ hơn chị nhận nhiều, em quỳ một đêm là cùng. Nhưng từ nay chị nợ em một việc. Một việc thôi. Lúc nào em xin, chị làm, không hỏi tại sao.
Tôi cứ tưởng mình nói hay lắm. Về sau mỗi lần nhớ lại câu ấy bà vẫn còn đỏ mặt. Một đứa bé tí teo ngồi xổm giữa đống mảnh bình, ra giá với chị mình như bà Bá Đàm ra giá với con nợ. Cô Hai nhìn tôi như nhìn con chuột vừa nói tiếng người. Mắt cô ấy đi xuống mảnh men, đi xuống bàn tay mình. Lúc ấy ngoài sân có tiếng dép, có đèn lồng đi tới.
— Mày là cái thứ gì, cô thì thầm. — Được.
Cô ấy không phải đứa ngu. Sau này bà còn kể.
Mẹ cả đến cùng cô Ba cầm đèn. Tôi quỳ sẵn giữa đống mảnh, tay chắp lại.
— Thưa mẹ cả, con chạy, con va vào chị Hai, con làm đổ bình.
Bà không nói gì. Bà bảo mọi người tránh ra, đứng cho khỏi giẫm phải, và bà ngồi xuống. Bà ngồi thụp xuống giữa hành lang, trong bộ áo tiếp khách, một việc mà tôi chưa thấy bà làm bao giờ. Bàn tay bà đi trên mặt gạch, nhặt từng mảnh một. Mảnh miệng bình. Mảnh vai. Bà xoay mảnh ấy trong ngón tay, ngón cái miết dọc đường vỡ, rồi đưa lên mũi. Cả hành lang im, nghe được tiếng dế ở chân tường. Bà giữ mảnh men dưới mũi lâu bằng thời gian người ta nói xong một câu, rồi đặt nó xuống, đúng vào cái chỗ vừa nhặt lên.
— Vỡ từ chân, rơi thẳng xuống, từ chỗ cao ngang ngực người lớn, bà nói, chẳng biết là nói với ai. — Cô Năm cao tới đâu?
Chẳng ai trả lời. Cô Hai đứng cạnh cô Ba, hai bàn tay giấu trong tay áo.
— Con đã nhận thì con quỳ. Sân gạch, tới khi trăng qua nóc bếp. Con Mận đâu?
— Bẩm bà, con Mận đi cổng sau ạ, đem bánh cho ông Dậu, có người gọi với từ đầu hè.
— Ừ.
Bà đứng dậy, vịn vào cô Ba. Rồi bà đi vào, tiếng chìa khoá không nhanh thêm cũng không chậm đi. Cái bình ấy theo bà từ năm mười sáu tuổi. Tôi chưa từng nghe bà nhắc tới nó thêm một lần nào.
Thế là tôi quỳ. Tối Rằm, trăng tròn như cái nia, sân gạch hai đầu gối tôi đã biết mặt nhau rồi. Khách trông trăng ở sân trước, tiếng cười từng đợt vọng qua, có đứa trẻ nhà nào đang múa đèn. Tôi quỳ đúng chỗ chị Thắm đã quỳ hai đêm trước, mặt gạch mát lạnh, và tôi tháo gấu áo ra, ngón tay lần tới nút đầu, tháo nó. Mười còn chín. Việc ấy đã đổi.
Tôi đếm được gì? Con Mận không bị đuổi. Cô Hai nợ tôi một việc. Hai đầu gối thêm một lớp da. Lần đầu tiên từ khi mở mắt tôi thấy mình như một người có cái gì trong tay, dù cái có ấy mới là lời hứa của một đứa con gái mười sáu tuổi đang sợ.
Có tiếng lẹp xẹp. Một cái bóng tròn đi men chân tường, ôm cái gì trong vạt áo, nhìn trước nhìn sau một cách rất lộ liễu, rồi ngồi thụp xuống cạnh tôi.
— Ăn không? Bánh dẻo. Chị ăn mất một góc để thử độc thôi. Làm gì mà làm vỡ cái bình ấy, cái bình ấy xấu lắm, mẹ chị quý thì quý chứ chị thấy xấu, cổ nó dài như cổ con ngỗng. Em không va vào chị Hai đâu chứ gì? Thôi khỏi nói. Chị biết. Em chạy bao giờ. Cả cái nhà này có mỗi em đi như người đếm bước. Ăn đi, trăng sắp qua nóc rồi.
Tôi cầm miếng bánh. Tôi chưa khóc lúc mở mắt thấy mẹ, cháu nhớ không. Đến đây thì cháu viết gì tuỳ cháu.
Trăng qua nóc bếp lúc gần nửa đêm. Tôi đứng không nổi, phải bò tới chân thềm mà đứng lên. Mẹ tôi không dám ra, chỉ có cánh cửa nhà ngang khép hờ với một vệt sáng đèn dầu. Tôi đi men theo hè bếp về phía ấy thì có một cái bóng to đứng chặn, một tay cầm bát.
Vú Đãi. Bà đưa bát cho tôi, không nói gì. Nước cháo, có gừng, còn nóng. Bà chờ tôi uống tới ngụm thứ hai.
— Con Mận chiều nay được cô Tư sai ra cổng sau, bà nói. Giọng bà nhỏ, bằng phẳng, y như đọc giá hàng. — Tôi vừa hỏi cô Tư. Cô Tư bảo cô ấy có sai đâu.
Tôi cầm bát bằng hai tay.
— Hôm giỗ cô Năm ngất lúc tôi còn cách dì Ba ba bước. Hôm nay con Mận vừa ra khỏi hành lang thì cái bình vỡ. Tôi coi cái bếp này ba mươi năm, cô Năm ạ, tôi không tin gì trên đời ngoài cái cân. Cô nói cho tôi biết, trời cho cô biết trước à, hay có người bảo cô?