Chương 4: Hai cái đấu
Thuộc tiểu thuyết Mười Một Việc Của Con Gái Vợ Lẽ
Tác giả: Thảo Chi · Thể loại: Ngôn Tình · Đăng ngày · 2043 từ · khoảng 10 phút đọc
— Con ngủ mơ, tôi nói.
Vú Đãi cười. Cháu chưa thấy bà ấy cười thì chưa biết nó đáng sợ thế nào, cái cười chỉ có ở một bên má, bên kia vẫn đang tính tiền.
— Thế thì cô cứ ngủ cho nhiều vào. Tôi không hỏi nữa. Con Mận là con của em gái tôi, em tôi chết, tôi hứa với nó. Tôi nợ cô một việc, tôi không thích nợ. Cô cần gì, nói, tôi trả cho xong. Trả rồi thì thôi, đừng ai quen ai.
Năm ngày sau tôi mới nói, vì năm ngày ấy tôi mới nghĩ ra mình cần gì. Sáng hai mươi tháng Tám tôi xuống bếp, lấy cớ mẹ tôi sai đem cái rổ trả, và thưa với vú rằng tôi muốn biết làm sao để chị Thắm hết nợ.
Bà ngừng tay, cái dao trong tay còn cắm vào lưng con cá.
— Cô muốn trả ơn tôi bằng cách bắt tôi lo cho chị ấy?
— Con không dám. Con muốn biết ba hộc đi đâu.
Vú nhìn tôi một lúc. Tôi đã nói rồi, bà không tin gì trên đời ngoài cái cân, và tôi nghĩ lúc ấy bà đang đặt tôi lên đĩa cân. Bà rút dao ra, lật con cá.
— Tôi không biết. Mà có biết tôi cũng không nói, cô trả bằng gì? Nhưng tôi trả cô một câu, câu này tôi cho đúng giá một con Mận. Hôm nay là ngày gạo tô vụ chiêm còn nợ nộp nốt vào cổng sau. Cô ra đấy đứng mà nhìn. Nhìn cái đấu ấy. Xong thì thôi nhé, cô Năm.
Gạo tô cháu biết không? Nhà quan Tham có ruộng, người ta cấy rồi nộp thóc gạo theo lệ, gọi là gạo tô. Con gái trong nhà không được ra cổng, nhưng cổng sau thì tính là trong nhà, ở đấy có ông Dậu gác, một mắt đục, ngồi trên cái chõng ho như kéo cưa. Tôi đem cho ông một bát nước vối, ông đỡ bằng hai tay.
— Cô Năm ra đây có việc gì đấy?
— Dạ con ra xem cho biết.
— Ừ, xem cho biết, ông nói, rồi gật đầu, cái kiểu gật của người gác cổng đã nghe mọi câu trả lời trên đời. — Tôi ngồi đây bốn mươi năm, người vào qua cái cổng này ai cũng bảo là vào xem cho biết. Cô đứng tránh cái rãnh nước ra, chỗ ấy trơn.
Sân sau hôm ấy đầy thúng mủng, đầy chân người, mùi rơm, mùi mồ hôi, mấy bà tá điền áo nâu ngồi bệt cạnh gánh gạo, không ai dám to tiếng. Ở giữa là người nhà đứng đong, cầm cái đấu gỗ đen bóng, gạt ngang bằng thanh tre.
— Tránh ra cho hàng, cô bé ơi, cô đứng chỗ ấy đòn gánh nó phang vào mặt thì cái mặt quý lắm!
Tôi lùi lại. Ở chỗ cái đấu đang có chuyện, mà người ta không nói to, chỉ nghe được như tiếng ong trong vách. Một bà cụ tá điền, lưng còng như cái liềm, quỳ một gối cạnh gánh gạo của mình, đang năn nỉ người đong bằng cái giọng của người đã năn nỉ cả đời:
— Bẩm chú, chú gạt nhẹ tay cho con, cái thanh tre chú gạt cứ ấn xuống thì nó lõm, đong thế gạo nó dồn. Năm nay ruộng con úng mất một góc, nộp đủ là con mừng rồi, con không dám nói gì, con chỉ xin chú đừng lèn.
— Bà cụ ơi, cái lệ nhà quan thế. Nộp năm hộc là năm hộc, đấu nó bảo bao nhiêu thì bấy nhiêu. Bà muốn nói chuyện với cái đấu thì bà lên mà thưa với bà lớn.
Người đong nói không ác, đang nghĩ chuyện bữa trưa, tay gạt thanh tre đi một đường, ấn xuống đúng cái chỗ bà cụ vừa xin đừng ấn. Bà cụ chắp tay vái, vái cả thằng đong lẫn cái đấu. Tôi đứng nhìn cái lưng ấy, nhớ ra đời trước tôi cũng từng thấy cảnh này, thấy rất nhiều lần qua khe cổng, và tôi chưa bao giờ nghĩ gì về nó cả.
Một thằng con trai vai lệch đi qua, chân đất, gánh hai bồ gạo mà đi như chạy, đặt xuống, quay lại, nhe răng cười, thiếu mất một cái răng cửa. Thằng ấy mười lăm tuổi, em ruột chị Thắm, tên Khoan, người bến Đông, gánh thuê từ năm mười hai. Đời trước tôi không nhớ từng nói với nó câu nào, nó là một cái đòn gánh đi ngang qua sân.
— À, xin lỗi, cô Năm. Con tưởng đứa con sen. Áo cô với áo tụi nó một thợ may.
Nó nói thật, không phải hỗn. Ông Dậu ho một tràng, tôi đoán là ông cười.
— Sao anh biết tôi là cô Năm?
— Cô đi như cô Bảy. Bước có đếm.
Không ai trong nhà gọi mẹ tôi là cô Bảy. Mười lăm năm nay bà là dì Ba, là nhà ngang, là con hàng xáo. Tôi nghe hai chữ ấy từ miệng một thằng gánh thuê mà đứng ngẩn ra như nghe tên một người lạ.
— Ở bến Đông ai chả biết cô Bảy Sim, nó nói, xốc lại đòn gánh, nói không cần nhìn tôi, mắt vẫn theo cái đấu. — Bà cụ con bảo xưa cô Bảy đong ba mươi bát không xê dịch một hạt, người ta đặt cược. Lấy về đây, phí. Mà này cô Năm, cô cân hộ con mắt. Nhìn cái đấu kìa.
— Tôi đang nhìn.
— Nhìn gì?
— Không biết.
Nó cười to, rồi hạ giọng xuống, lúc ấy tôi mới thấy nó biết nhiều hơn cái miệng nó nói. Nó chỉ cái đấu bằng cằm.
— Mẹ con hồi còn sống nộp tô cho nhà khác, nhà đấy đấu nhỏ hơn. Ở đây một đấu của quan đong đầy thì bằng một đấu của chợ với chừng một bát nữa. Ai cũng biết. Không ai nói. Nói thì năm sau mất ruộng. Bà cô kia nộp năm hộc thì sổ ghi bốn hộc rưỡi, mà bà ấy còn phải cảm ơn. Người ta bảo nhà quan to thì cái đấu cũng to.
— Gạo vào nhiều hơn sổ thì sao mà thiếu được? tôi nói. Tôi nói ra miệng, cháu thấy không, cái thói nóng lòng của tôi đấy. — Sao lại thiếu ba hộc?
Khoan im. Đây là lần đầu tôi thấy nó im. Nó nhìn sang phía bếp, phía có cái chái nhỏ chị nó ở, cái lưỡi đẩy vào chỗ răng thiếu.
— Cô hỏi con thì con biết hỏi ai, nó nói. Rồi nó cúi xuống móc đòn gánh, và trong lúc ấy, không ngẩng lên, nó nói rất nhanh, như người nhổ một hạt sạn: — Tháng này con gánh ra nhiều hơn gánh vào. Chị con bảo con câm mồm. Cô cũng chưa nghe gì nhé.
Nó đi. Tôi đứng đấy với cái bát không. Gánh ra? Ai sai nó gánh ra, gánh đi đâu? Tôi chưa kịp nghĩ thì Mận đã chạy tới gọi, chiều rồi, giờ Mùi rồi, cô lên buồng thêu.
Tôi ngồi vào góc của mình, cầm kim, đầu óc để ở cổng sau. Cô Hai đọc sổ. Từ hôm Rằm cô ấy không nhìn tôi, nhưng mỗi lần đi ngang lại xoay người đi một chút, kiểu người ta xoay đi khi ngang qua cái chén nước nóng. Mẹ cả tựa gối xếp, mắt khép hờ, ngón tay gõ rất chậm lên đầu gối mình.
— Tiền chợ tháng này, cô Hai đọc, giọng rầu rĩ. — Thịt cá tám quan hai tiền. Dầu đèn, muối, nước mắm bốn quan năm tiền. Lễ rằm một quan ba tiền. Cộng... mười ba quan chín tiền.
Tôi nghĩ tới gánh gạo. Môi tôi tự nó động đậy. Ở nhà họ Đàm gần hai năm, chiều nào cũng cộng, bà Bá Đàm có cái lệ cứ nghe số là phải cộng ra miệng ngay, tôi cộng như người ta thở, và trong đầu tôi chẳng ai xin phép, một tiếng rất khẽ đi ra khỏi kẽ răng:
— Mười bốn.
Tôi đâm kim vào ngón tay mà không thấy đau. Cả buồng vẫn im lặng như cũ. Cô Hai không nghe, cô Tư đang nhai, cô Ba không ngẩng đầu. Cách tôi năm bước, cái ngón tay trên đầu gối mẹ cả ngừng gõ.
— Cô Hai đọc lại.
— Thưa mẹ, tám quan hai tiền, bốn quan năm tiền, một quan ba tiền, cộng mười ba quan chín...
— Cộng lại.
Cô Hai đếm ngón tay, lẩm bẩm, đỏ mặt.
— Dạ mười bốn quan chẵn. Con sót.
— Con nhớ lấy. Tháng sau đọc sai là chép phạt. Bà để yên một lúc cho cô Hai đỏ mặt xong. Bà không quay đầu lại, giọng vẫn khẽ như thế, nhưng lần này nó đi xuống tận cuối chiếu. — Cô Năm đang đếm gì đấy?
— Dạ thưa mẹ cả, con đếm mũi thêu.
— Hoa của con có bảy cánh, mỗi cánh sáu mũi, mẹ nghe cô Tư khoe hộ con rồi. Bốn mươi hai. Con đếm mũi kiểu gì mà nó ra mười bốn?
Cô Tư ngẩng lên, má phồng bánh, nhìn tôi, nhìn mẹ, chẳng hiểu đã khoe gì. Tôi cúi đầu, giọt máu ở ngón tay tôi to dần trên vải. Cháu biết có hai cái sai tôi có thể phạm lúc ấy. Nếu tôi bảo con không đếm gì cả thì tức là tôi có nói. Nếu tôi trả lời lanh quá thì tôi lại thêm một lần không biết sợ. Tôi thở ra, để cho giọng mình run. Giọng ấy tôi đã có sẵn từ đời trước, chỉ việc lôi ra.
— Thưa mẹ cả, con... con đếm đến cánh thứ ba thì sai, con đếm lại, con ngu ạ.
Tôi nghe tiếng bà thở ra bằng mũi. Có lẽ là cười, có lẽ là không.
— Không sao. Cái chỗ sai ấy, con sửa đi.
Thế là hết. Cô Hai lại đọc tiếp. Một lát sau tôi mới dám thở, rồi mới nghĩ ra rằng từ lúc tôi nói một tiếng rất khẽ, đầu bà đã hơi nghiêng về góc này, chỉ nghiêng một chút, và tôi đã không hề thấy bà mở mắt.
Tối ấy tôi xin đem bát xuống giếng rửa giúp cho nhà bếp, và cửa kho hé. Việc ấy lạ, nhưng chập tối là lúc người nhà cất đồ gạo tô vừa đong. Cái đấu đen vừa dùng ban sáng được đem cất, Mận đang bê vào. Tôi đi ngang, nhìn qua lưng nó. Tôi chưa từng vào kho, đời trước cũng chưa. Một ngọn đèn treo, mùi gạo mát, mấy cái bồ cót cao hơn người. Bên trong, trên cái chạn thấp, đặt cạnh nhau là hai cái đấu.
Một cái đen bóng vừa bê vào. Một cái sáng màu hơn, mòn hai bên quai, chính là cái mẹ tôi vẫn dùng đong gạo ra cho bếp, đong lộc, đong phần.
Tôi đứng lại, tôi cho rằng mình đứng đúng một hơi thở. Hai cái đấu cùng một khuôn như hai anh em, cao bằng nhau, miệng bằng nhau. Nhưng ánh đèn chiếu vào lòng cái đấu đen, và ở đáy nó, sát thành, có một đường gỗ mới hơn, sáng hơn, ôm trọn vòng quanh. Cái đáy ấy nằm thấp hơn đáy đấu kia chừng một ngón tay.
Người ta đã thay đáy, hạ xuống.
— Cô Năm lấy gì trong đấy ạ?
Con Mận quay lại, hai tay ôm cái thanh gạt. Tôi lắc đầu, đi ra giếng. Tôi múc nước. Tay tôi rửa bát, đầu tôi đang cộng, cộng thật nhanh, một bát mỗi đấu, bao nhiêu đấu mỗi vụ. Rồi tôi dừng lại, cái bát trong tay còn đầy nước, vì tôi vừa nghĩ ra một điều.
Không có ai ăn cắp cả. Là hai cái đấu đong khác nhau.
Hôm sau tôi đợi lúc nhà ngang vắng người, tôi xuống gặp mẹ, và tôi nói:
— U dạy con đong gạo bằng tay đi.