Chương 6: Tay u run
Thuộc tiểu thuyết Mười Một Việc Của Con Gái Vợ Lẽ
Tác giả: Thảo Chi · Thể loại: Ngôn Tình · Đăng ngày · 2112 từ · khoảng 11 phút đọc
Thầy tôi về lúc chiều mồng một, mang theo mùi trầm và hai người bạn. Một ông quan bên bộ Lễ râu dài, một ông Đốc học béo, cười to, uống khoẻ, tên họ các ông ấy bà không nhớ, chuyện đã sáu mươi năm rồi, và các ông ấy cũng chẳng biết tôi có trên đời.
Nhà đổi mùi ngay. Nhà có đàn ông về thì cả sân đi nhẹ hơn. Từ sáng mẹ tôi đã được sai xuống phụ dọn, và lúc tôi bưng rổ rau qua, tôi thấy bà đứng ngoài hè, nhìn lên trời xem gió, tay đưa xuống dây lưng rồi lại thả ra. Tôi hỏi u có mệt không, tối nay có khách đấy. Bà nhìn tôi lâu hơn thường lệ một chút.
— Con có muốn nói gì với u không?
Trời ơi, cháu ạ, câu ấy. Cả đời bà mẹ tôi chỉ hỏi tôi câu ấy một lần. Tôi đã đứng cách bà ba bước, tay ôm rổ rau, trong bụng hát lên vì sắp thắng, và tôi lắc đầu, cười thật ngoan:
— Dạ không ạ.
— Ừ. Thế thì đi đi.
Mẹ cả mặc áo the sẫm, nghe cô Hai đọc lại tờ giấy kê món lần cuối, sai dọn sáu món ở sảnh giữa, chiếu hoa, đèn đôi. Tôi đứng sau cái bình phong tre ở đầu hành lang, chỗ mẹ tôi và tôi được phép đứng đợi sai bưng, và chân tôi lạnh đi từ gót.
Thầy tôi là người thế nào à? Cháu hỏi đúng chỗ khó. Tôi sống với ông bảy năm mà nói với ông chưa được một trăm câu. Ông năm mươi hai tuổi, râu thưa, luôn chắp tay sau lưng, khi có việc gì trong nhà ông bảo để đấy, rồi đi vào thư phòng. Tôi nghĩ ông không ác. Ông chỉ không muốn biết. Cái nhà này có một người giữ chìa khoá, và ông giữ cái việc không muốn biết, giữ giỏi lắm.
Rượu qua ba tuần, ông Đốc học mặt đỏ, cao hứng, đòi xem nếp nhà quan Tham dạy con có thật như người ta đồn. Thầy tôi gọi cô Hai ra chào. Cô đi ra, cúi đầu, thưa một câu đúng lễ. Thầy tôi vuốt râu, khiêm một câu. Cô Hai đứng dậy định lui, và tôi thấy cái vai cô ấy khựng lại một chút, chỉ một chút thôi. Rồi cô quay mặt, cười như người vừa chợt nhớ ra.
— Thưa thầy, con nghe trong nhà người ta bảo dì Ba đong gạo bằng tay còn chuẩn hơn cái đấu. Con chẳng biết có thật không, nghe như chuyện cổ tích ạ.
Rồi cô cúi chào, đi thẳng vào trong, qua chỗ tôi đứng không liếc một cái. Giữ lời, tôi đã nói với cháu rồi.
— Ồ! Ông Đốc học vỗ đùi. — Đong tay chuẩn hơn đấu? Lạ, lạ. Xưa tôi nghe có người đếm gạo bằng mùi, chứ đong tay thì chưa thấy. Đem ra xem thử, quan Tham, xem thử cho vui, ta cược một bình rượu!
— Chuyện đàn bà bếp núc, thầy tôi cười nhạt.
— Ấy, thế mới vui. Hay là bác sợ thua?
Tôi nhìn sang phía mẹ cả. Bà ngồi ở bậc dưới chiếu, nghiêng đầu về phía tiếng cười, bàn tay đặt trên đầu gối. Ngón tay bà gõ một cái, rồi thôi.
— Thưa quan lớn, bà nói, giọng khẽ mà ai cũng nghe. — Khách muốn xem thì xin cứ xem. Cô Hai nhắc tới rồi, trong nhà không có gì phải giấu.
Người ta dọn ra giữa sân gạch, ngay viên sứt hình cái tai. Hai ngọn đuốc, một cái chõng, một bồ gạo cũ, cái ống thưng bằng tre. Ông Đốc học hô đem đấu ra cho đủ bộ. Con Mận chạy, tôi nghe nó đặt xuống chõng một tiếng cộc, rồi một tiếng cộc nữa. Hai cái, đúng như đã dặn. Cái đấu sáng và cái đấu đen đứng cạnh nhau dưới đuốc, và ở bậc thềm cái đầu mẹ cả quay về phía cái chõng, chỉ một chút, rồi chuyển sang đúng chỗ mẹ tôi đang đứng. Người nhà đứng dần lại ở hai bên, chân bếp, đầu hè, vú Đãi đứng khoanh tay, chị Thắm đứng sau lưng vú, ôm Tí ngủ. Cô Tư thò đầu ra, tay còn cầm miếng gì. Thằng Khoan vừa giao xong chuyến gạo cuối, nó dựa đòn gánh vào cột cửa ngách, chân đất, không cười.
— Dì Ba.
Mẹ tôi bước ra. Bà nhỏ quá. Bốn năm chục con mắt nhìn vào, và bà đi tới cái chõng bằng cái bước có đếm của bà, cúi chào thầy tôi, cúi chào khách, hai tay rủ xuống. Áo nâu, dây lưng vải, tóc vấn chặt. Có tiếng người nhà khách cười khẽ, chắc họ nói con hàng xáo. Tôi nắm lấy cái khung tre của bình phong.
Ông Đốc học hào hứng lắm. Ông xắn tay áo, tự chỉ vào cái ống thưng.
— Này, bà ấy đong tay một thưng cho tôi, đổ vào cái mẹt, rồi ta đổ lại vào ống thưng xem hụt dôi bao nhiêu. Đúng thì ta đong tiếp cả đấu, đong đấu này đổ sang đấu kia cho chắc, sai thì tôi uống. Được không?
— Thưa quan, dạ.
Bà xoè tay. Tôi thấy cái ngón cái có vết chai ngang, cái cổ tay nghiêng đúng cái góc tôi đã tập suốt mười ngày. Bà nhắm mắt lại. Sân gạch im. Có tiếng đuốc nổ tí tách.
Bà xúc vốc đầu tiên.
Tôi đã thấy tay ấy đong hơn hai nghìn lần ở hai đời, chưa bao giờ nhúc nhích. Gạo chảy từ tay bà xuống mẹt thành một dòng đều như sợi chỉ, đấy là cái đẹp duy nhất tôi từng thấy ở nhà ngang. Vốc đầu tiên thì đúng thế. Vốc thứ hai cũng vậy. Tới vốc thứ ba, tôi thấy cổ tay bà khẽ giật. Một chút gạo rơi lệch ra mép mẹt. Bà dừng lại. Bà hít vào, rồi xúc tiếp. Tay bà bắt đầu run.
Tôi nghe thấy mình nói gì đó trong cổ họng. Không phải bà đang run vì sợ, tôi biết cái run vì sợ của bà, nó ở hai đầu gối. Tay bà run như người bị cảm lạnh, từ khuỷu xuống, gạo rơi vung vãi trên chõng, xuống gạch, kêu lách tách. Bà xúc vốc nữa, đổ thiếu, bà dừng, bà mở mắt ra, nhìn đống gạo trong mẹt như nhìn một đứa con lạ. Có tiếng cười đầu tiên từ phía người nhà khách. Rồi một tiếng nữa.
— Mười vốc rồi đấy! ông Đốc học reo lên, thích thú. — Nào, đổ vào ống, xem nào!
Con Mận đổ gạo trong mẹt vào ống thưng. Không đầy. Tôi nhìn thấy từ đây, thấp hơn miệng ống cả một lóng tay, thấp tới mức một đứa trẻ cũng thấy được.
Cả sân cười.
Cháu đã bao giờ nghe một sân đầy người cười một người chưa? Không phải tiếng cười độc ác đâu. Vui vẻ lắm. Ông Đốc học ôm bụng, đòi rượu, bảo thế là quan Tham thắng cược, chuyện cổ tích là chuyện cổ tích, khỏi đong tiếp làm gì. Ông bộ Lễ không cười to, ông đưa ngón tay gõ nhẹ vào thành cái đấu đen, nhìn sang cái đấu sáng, rồi mỉm cười trong râu. Thầy tôi không cười, ông chỉ nhìn đi chỗ khác, bảo thôi, để đấy, cho người ta dọn đi. Đám người làm cười theo chủ, cười dè dặt, rồi to dần lên, mười lăm năm nay họ đã nghe bà giỏi, hôm nay cũng được thấy bà không giỏi. Có ai đấy nói nhại: mười vốc một thưng, thưng này của nhà ai?
Mẹ tôi quỳ xuống nhặt những hạt gạo rơi trên gạch.
Không ai bảo bà, bà tự làm thế, từng hạt, cho vào lòng bàn tay. Tôi không biết sao chân tôi đã bước ra khỏi bình phong, tôi bước được đúng một bước. Một bàn tay to và nặng đặt lên vai tôi, kéo lại. Vú Đãi không nhìn tôi, bà nhìn ra sân.
— Đứng im, vú nói, hơi thở bà không động đậy. — Cô đi ra đấy thì còn tệ hơn.
— Tay u không bao giờ...
— Tôi biết.
Mẹ cả đứng dậy. Sân gạch im đi, không phải vì bà ra lệnh, mà vì bà đứng dậy. Bà đi tới chõng, chậm, cô Ba đỡ khuỷu tay bà, và ngón tay bà chạm cái đấu sáng, rồi chạm cái đấu đen đặt cạnh, chạm lên cả hai miệng đấu, nhẹ như người ta thử xem nồi đã nguội chưa. Rồi bà sai Mận đem cả hai vào, không ai có lý do gì để nhấc chúng lên nữa.
— Xin các quan thứ lỗi, nhà chúng tôi làm rộn. Dì Ba, dì không được khoẻ thì dì nghỉ đi. Từ mai dì không phải xuống bếp, cũng khỏi vào kho, để người khác lo, tay dì run thế đong gạo cho nhà không tiện.
Bà nói nhẹ nhàng như người ta nói lời quan tâm. Mẹ tôi vẫn quỳ, hai tay bưng chỗ gạo nhặt được.
— Dạ.
Khách trở vào bàn rượu. Người nhà chưa kịp tản đi thì bà đã quay lại, đứng ở bậc thềm, và giọng bà không đổi.
— Có lời ra tiếng vào dưới bếp về chuyện thiếu ba hộc hôm giỗ, nên mới sinh ra chuyện này, để khách phải cười. Bây giờ cả nhà đã thấy rồi. Chị Thắm đâu?
Tôi nghe tiếng thở của cả nhà bếp. Chị Thắm bước lên một bước, ôm con, chưa hiểu gì. Tí ngủ, cái đầu ngật trên vai chị.
— Việc ấy đã có nợ chín quan. Để nhà mất mặt trước khách quan, tôi không xử nhẹ được. Nợ gấp đôi, mười tám quan. Tôi không trừ công nữa, ba năm lâu quá, nhà đang cần tiền mặt, Rằm tháng Mười khoá sổ, chị lo cho đủ. Cô Hai, ghi.
Trong góc tối, nơi cô Hai đứng ôm sổ, một lát sau mới có tiếng đáp, giọng rất nhỏ:
— Dạ.
Tôi nhìn sang cái cột cửa ngách. Thằng Khoan đã đứng thẳng dậy. Nó không làm gì, nó nhìn cái đấu đen, rồi nhìn sang chị, cái lưỡi nó đẩy vào chỗ răng thiếu, và lần đầu tiên tôi thấy mặt nó không có gì vui cả. Rồi nó vác đòn gánh lên vai, đi ra cổng sau, chân đất, không có tiếng động nào.
Cháu ngừng bút làm gì? Ghi đi. Mười tám quan, một người ở thuê trong mười năm chưa chắc để ra được. Bà làm cái việc ấy đấy, tính cả khoản ấy vào.
Khuya, khách đã về buồng. Mẹ tôi ngồi trên giường tre, tôi múc nước cho bà rửa tay, cái thau sành có mấy hạt gạo chìm dưới đáy. Tôi cầm tay bà lên. Tay bà ấm, khô, không run một chút nào. Ngón cái có vết chai vẫn nằm im trong tay tôi. Tôi nhìn nó. Tôi nhìn bà.
— U ơi. Tay u làm sao thế?
Bà rút tay về, kéo cái chăn đắp lên chân tôi.
— U già rồi.
Bà ba mươi tư tuổi.
— Mai không phải xuống bếp, được ngủ muộn, bà nói. Rồi bà lấy trong vạt áo ra một nắm gạo, chỗ gạo đã nhặt ở sân, xoè tay nhìn nó một lúc, đổ vào cái hũ, đậy lại. — Ngủ đi con.
Có tiếng gõ khẽ ở vách. Tôi ra, cô Tư đứng trong bóng tối, tay ôm một gói lá, hai mắt đỏ, chắc vừa bị mẹ mắng hay vừa khóc, tôi không biết.
— Em cầm lấy, chân giò đấy, mâm trên còn thừa, chị lấy trộm. Đừng buồn nhé, đừng nghe bọn ấy. Mấy ông khách ấy thì biết gì, cái ông béo uống rượu rớt cả ra râu. Chị thấy dì Ba đong đẹp lắm, lúc đầu đẹp lắm. Tay ai chẳng có lúc run, tay chị ăn no cũng run. Chị về đây, mẹ mà biết thì chết.
Nói xong cô ấy đi, vừa đi vừa quẹt mũi. Tôi đứng cầm gói chân giò, thấy mình không có quyền ăn nó.
Mẹ tôi tắt đèn. Tôi nằm trong tối, sờ lên gấu áo. Đời trước, mẹ tôi mất chỗ đứng trong nhà này đêm mười ba tháng Tám. Đời này tôi đã dời được nó sang đêm mồng một tháng Chín, mười tám ngày, và tôi là người đã dọn sân.