Chương 7: Bà Đàm cầm tay

Thuộc tiểu thuyết Mười Một Việc Của Con Gái Vợ Lẽ

Tác giả: · Thể loại: Ngôn Tình · Đăng ngày · 2071 từ · khoảng 10 phút đọc

Tiếng cười thì ta nghe một lần, cháu ạ, nhưng nó không dừng lại ở đêm ấy đâu, nó đi vào bữa cơm.

Từ mồng hai tháng Chín, phần gạo nhà ngang vẫn đúng một thưng, chẳng ai rút đi hạt nào, vì mẹ cả công bằng theo lệ. Chỉ có bát canh mang xuống nhạt hơn. Chỉ có đứa con sen mới vào bưng cơm xuống, đặt mạnh tay hơn, và sau lưng có tiếng ai đó nhại: mười vốc một thưng. Mẹ tôi không xuống bếp nữa. Bà ngồi ở thềm nhà ngang vá áo, tay nhanh và đều, không run một mũi nào, và bà không nói về đêm ấy. Tôi có hỏi. Tôi hỏi ba lần trong tám ngày, lần nào bà cũng đưa cho tôi một cái gì để cầm, cái bát, cái chổi, cuộn chỉ.

Chị Thắm thì đi vay. Tôi không biết chị vay được ai. Có hôm tôi thấy chị đứng ở cổng sau với thằng Khoan, hai chị em cúi đầu đếm xâu tiền kẽm trên cái nón úp, và nó bảo sẽ đi gánh cả đêm, mùa này thuyền nhiều, và chị bảo thôi. Mười tám quan. Cháu cộng với bà đi. Thằng Khoan cả năm để ra chưa nổi ba quan. Vú Đãi dành dụm bảy năm được năm quan, không ai biết, và bà ấy không nhắc tới.

Tôi ngồi trong góc buồng thêu, đâm kim vào hoa bảy cánh, trong đầu lặp đi lặp lại một sợi gạo chảy không đều. Tôi vẫn không hiểu. Tay ấy đã run. Tay ấy không run. Cả hai đều tôi thấy tận mắt. Tôi bắt đầu nghĩ có lẽ tôi nhớ sai, có lẽ cái tay đong chuẩn hơn đấu chỉ là chuyện một đứa trẻ tự kể cho mình nghe, người ta sống lại mà có khi cũng mang theo vài thứ mình tưởng tượng. Ý nghĩ ấy làm tôi sợ hơn mọi thứ.

Ngày mồng chín tháng Chín, tôi đang ngồi trong góc thì nghe ngoài sân có tiếng cười.

Không to lắm. Một tiếng cười đàn bà, vui, ấm, hơi khàn ở cuối, như người vừa ăn miếng trầu ngon. Rồi một giọng nói, đang nói với ai ở sân trước, từng chữ rơi rất tròn:

— Ấy chết, bác cứ làm thế tôi ngại, cái gì cũng phải có đầu có đuôi, tính thế cho nhẹ.

Cái kim tôi cầm rơi xuống chiếu.

Thân thể nhớ trước cái đầu. Ruột tôi thắt lại, và tôi ngửi thấy mùi sữa ôi, mùi chiếu ẩm, mùi một căn buồng ở nhà họ Đàm vào tháng Năm, trong khi tôi đang ngồi giữa buồng thêu nhà mình, nắng tháng Chín đang đổ trên khung thêu. Đời trước, bốn năm nữa, tôi mới được nghe giọng nói ấy lần đầu. Tôi sẽ nghe nó mỗi ngày trong suốt gần hai năm. Nó là giọng đã nói bên giường tôi, đêm mồng sáu, rằng một đứa lẽ đẻ con gái thì để nó nghỉ cho lại sức, thầy lang bây giờ đắt, tính thế cho nhẹ.

Bà Bá Đàm đến.

— Em làm sao thế, nhặt kim đi kìa, cô Tư thì thầm, rồi ngó ra cửa. — Ai đấy nhỉ? Nghe bảo nhà giàu lắm, nhà ở ven kinh, đeo nhẫn vàng ngón cái cơ, mà răng đen đẹp nhất phố. Chị nghe vú nói mẹ phải tiếp, thầy chỉ nói vọng ra một câu rồi đi. Lạ nhỉ, nhà mình đâu có quen ai nhà buôn. Không biết họ có mang quà không? Em có đói không?

Một lát sau con Mận đến gọi. Bà cả cho gọi các cô ra chào khách, mặc áo sạch.

Cả bốn chị em, xếp theo thứ, đứng ở hiên sảnh nhỏ. Cô Hai đi trước, rồi cô Ba, cô Tư, rồi tới tôi với bốn thước vải nâu của mình. Mẹ cả ngồi trên sập, thẳng lưng, chén trà để trước mặt không động tới. Đối diện bà là một người đàn bà tròn trịa, má hồng, tuổi ngoài bốn mươi, cười bằng cả mặt. Bà không hề thay đổi. Tại sao bà phải thay đổi? Ở đây bà còn trẻ hơn trong trí nhớ của tôi năm tuổi, và trên ngón cái bàn tay phải vẫn cái nhẫn ấy, cái nhẫn đã có lần cộc vào đầu tôi vì chép sai một chữ.

Tôi nhìn xuống mũi chân. Tôi đếm. Mười viên gạch từ chỗ tôi tới sập. Tôi không nhớ đời trước hay đời này mình đã từng phải dùng hết sức để chỉ đứng yên như thế chưa.

— Ôi, các cô nhà quan có khác, bà Đàm nói, xởi lởi, ngắm từng người như ngắm vải. — Cô cả đây thì chả dám nói gì rồi, đã có nơi rồi phải không bác? Cô Ba khéo tay nhìn là biết, tay này con hạc nó cũng phải bay. Cô Tư này tốt tướng, nuôi được cả nhà. Còn cháu này... bé thế, con nhà ai?

— Cháu Năm, con dì Ba. Giọng mẹ cả đều đều. — Mười ba tuổi.

— Lại đây bác xem nào, con.

Mười viên gạch. Tôi đi. Cháu nghĩ tôi nên làm gì? Tôi đã nghĩ trong một thoáng rằng tôi nên ngất, tôi ngã khéo lắm kia mà. Tôi đến trước mặt bà, cúi chào, và bà cầm lấy bàn tay tôi. Tay bà nóng, mềm, hơi ẩm. Bà lật bàn tay tôi lên, ngón cái có nhẫn miết ngang gốc ngón tay chỗ có chai. Miết sang ngón trỏ, rồi kéo các ngón ra, ngắm đốt tay. Y như thế. Y hệt như thế, cái lần tôi mười bảy tuổi đứng trong đúng sảnh này, và bà nói một câu, câu mà nhiều năm sau tôi còn nghe trong mơ.

— Con bé này tay nhỏ mà ngón dài. Chai đều, biết làm việc. Tay này chép được đấy.

Bà cười, ngẩng lên nhìn tôi. Đôi mắt rất vui, lanh, không có gì trong đó ngoài phép tính. Tôi nhìn lại bà, có lẽ tôi đã nhìn hơi lâu, vì trong đôi mắt ấy có một vệt tò mò thoáng qua.

— Dạ thưa bác, tôi nói. Giọng tôi không có gì, tôi không biết nó từ đâu ra.

— Ngoan. Bác có đứa cháu cũng trạc tuổi con, mà nó có biết thưa gửi thế đâu. Bà vỗ nhẹ mu bàn tay tôi hai cái rồi buông ra, quay sang mẹ cả, không hạ giọng tí nào. — Thế thì tính thế cho nhẹ nhé, bác? Cháu này. Tôi về nói với nhà tôi.

Mẹ cả nhấc chén trà lên, chén ấy chắc đã nguội từ lâu, rồi đặt lại.

— Các con lui đi.

Tôi đi được tới hành lang thì hai đầu gối không còn là của tôi. Tôi dựa vào cột. Cô Tư kéo tay tôi: em lạnh thế, em ốm lại à? Tôi không nói được, tôi lắc đầu. Không thể nào. Ngày về nhà họ Đàm là mồng sáu tháng Chạp năm tôi mười tám, nút thứ chín. Năm tôi mười bảy, mới là năm bà đến xem mặt. Cái gì đang xảy ra hôm nay không có trên sợi chỉ. Không có ở đâu cả. Tôi đã nhớ bảy năm, và trong bảy năm ấy không có buổi chiều này.

Tôi chưa biết mình đã nghe gì cho tới chập tối, khi mẹ cả cho gọi.

Bà ngồi trong gian riêng, trời sắp tối hẳn, cửa sổ chỉ còn một vệt xám. Tôi quỳ ở chiếu. Bà nói không có lời dạo đầu, và bà nói rất rõ, tôi sẽ không làm sai đi một chữ:

— Nhà ta có chỗ nợ với nhà họ Đàm. Việc ấy không phải việc của con. Nhà họ Đàm muốn có một người bên ta, đổi lại họ không đòi cái gốc sớm. Giấy sẽ làm, thầy con đã gật đầu, thầy con chỉ biết là nhà ấy muốn kết thông gia. Con đủ mười tám tuổi thì về bên ấy, làm lẽ con trai cả nhà họ. Từ giờ tới lúc đó con ở nhà, chưa có gì đổi. Năm năm là lâu. Con nhớ lấy.

Một dòng trên tờ giấy. Một món nợ của người lớn, trừ vào một đứa bé người lớn không cần tới trong năm năm nữa. Bà nói như cô Hai đọc tiền dầu đèn. Tôi nghe mình thở.

— Thưa mẹ cả, con... tại sao lại là con ạ?

Đứa mười ba tuổi phải hỏi thế, và tôi cũng thật lòng muốn biết. Tiếng chìa khoá chạm nhau khi bà hít vào.

— Vì con còn lại, bà nói. — Đi đi.

Cô Tư đợi tôi ở chỗ rẽ, ôm cái lồng đèn, tôi không biết sao cô ấy biết mà đợi.

— Chị nghe rồi, cô nói, lần đầu tiên trong đời tôi thấy cô ấy nói chậm. — Làm lẽ là phải làm sao hả em? Vú bảo là đi hầu người ta, mà năm năm nữa cơ mà, năm năm nữa biết đâu nhà họ sạt nghiệp. Hay em ăn thật nhiều vào, béo như chị đây, xấu đi, người ta không lấy. Chị nói thật đấy. Hay chị xin mẹ cho chị đi thay, nhà ấy chắc ăn ngon lắm.

Tôi cười, tôi nhớ mình đã cười, một cái cười méo mó. Cô ấy mười bốn tuổi, cô ấy thật lòng đấy cháu ạ. Đời trước cô ấy về nhà chồng năm mười sáu, tới năm tôi về nhà họ Đàm thì tôi không còn nghe tin. Tôi cầm lấy cái lồng đèn của cô, đi về.

Mẹ tôi đã biết rồi. Bà ngồi ở mép giường, trước mặt là cái áo vá dở, không vá. Tin ở nhà này đi nhanh hơn người, vú Đãi đã xuống nói trước. Bà ngẩng lên nhìn tôi, và tôi thấy một thứ tôi chưa thấy ở cả hai đời: bà đang sợ. Rồi bà đứng dậy, sửa lại áo, đi ra, đi lên phía nhà trên, không cần giấu ai. Lệnh mẹ cả đã có: đừng lên nữa. Bà vẫn lên.

Bà đi chừng bằng nồi cơm cạn. Về, bà ngồi xuống cạnh tôi. Ho một cái. Hai bàn tay bà đặt trên đầu gối, ngửa ra, trống không.

— Bà ấy nói gì hả u?

— Bà ấy bảo hết rồi.

— Hết gì hả u?

Bà nhìn hai bàn tay mình. Ngoài vách, tiếng ai đó xách nước.

— Ăn cơm đi con, nguội rồi.

Đêm ấy tôi tháo gấu áo. Nút thứ chín, ngày mồng sáu tháng Chạp. Ngày thì vẫn có thể đúng. Nhưng đấy không còn là thứ tôi biết. Tôi không đổi việc ấy, tôi chưa kịp đụng tới nó, thế mà nó đã đi sớm năm năm. Tôi tháo nó ra. Chín còn tám.

Tôi nằm nghe mưa bắt đầu rơi lộp độp xuống góc đông, và trong đầu tôi có một ý nghĩ bò ra, nó lạnh hơn nước mưa. Sợi chỉ của tôi có mười một ngày. Hôm giỗ tôi đổi một, Rằm tôi đổi hai. Thế thì ai đổi cái này? Bà Bá Đàm tìm tới nhà trước năm năm, trước mọi thứ, đúng đứa bé này, đúng cái tay này, nói đúng câu ấy. Nếu trên đời có một người sống lại vì một lý do nào đấy, tại sao lại chỉ có một? Nếu trong cái nhà này có một người khác cũng đang nhớ, đang đổi các việc ngược lại với tôi? Một người biết tôi chép được.

Hôm sau, tôi bảo con Mận cái kim đã tìm thấy rồi, đưa nó một miếng bánh cô Tư cho, và tôi hỏi nó ai đã đưa bà Đàm tới, ai trong nhà này đã nói chuyện với bà ấy trước tiên, ai nhắc đến cô Năm.

Mận ngó trước ngó sau, kéo tôi vào góc bồ cám, răng khểnh cắn môi.

— Con lạy cô, cô đừng nói con nói. Hôm kia con bưng trà ra cổng ngách, con nghe cậu cả nói chuyện với người nhà họ Đàm. Cậu cả bảo: nhà tao còn đứa út, con vợ lẽ, chẳng ai cần. Mà nó đếm giỏi lắm.

Cậu cả chưa bao giờ nhìn tôi quá một cái liếc. Trong hai đời tôi chưa từng đứng gần ông ta, và ông ta không thể biết tôi đếm.