Chương 8: Để đến sáng
Thuộc tiểu thuyết Mười Một Việc Của Con Gái Vợ Lẽ
Tác giả: Thảo Chi · Thể loại: Ngôn Tình · Đăng ngày · 2082 từ · khoảng 10 phút đọc
Bà phải nói với cháu về cậu cả, chỗ này cháu đừng ghi vội, nghe cho hết đã.
Lê Đình Huân, mười bảy tuổi, con trai duy nhất của nhà. Mẹ cậu là dì Hai, mất khi cậu lên ba, mẹ cả nuôi từ đó. Cả nhà này quay quanh cái lưng cậu như mâm cơm quay quanh ông khách, chỗ ngồi đầu, miếng cá giữa, ông đồ riêng, thầy đồ Thọ ở nhà ngoài chỉ để dạy một mình cậu. Cậu cao, trắng, áo lúc nào cũng phẳng. Móng tay cậu cắn cụt tới thịt, tôi để ý từ năm tám tuổi. Từ khi mở mắt ở sân gạch, tôi tránh cậu như người ta tránh cái bậc thang thiếu: tôi không đứng cùng phía, không bưng khay nếu khay ấy đi về phía cậu, cậu vào buồng thêu chào mẹ thì tôi tìm cớ nhặt kim. Cháu sẽ hỏi vì sao. Bây giờ thì bà nói.
Đêm mồng bảy tháng Năm năm tôi hai mươi, tôi đã sốt tới ngày thứ ba. Bà Bá Đàm bảo thầy lang đắt. Chồng tôi đi vắng. Đứa con gái tôi đẻ được năm ngày nằm cạnh tôi, ai đó đã bế nó đi, tôi không nhớ là ai. Con hầu bảo tôi rằng đã có người về nhà quan Tham xin tiền mời thầy thuốc, vì tôi là người của nhà ấy, nhà ấy phải lo. Thầy tôi đã mất chức về quê. Nhà chỉ có cậu cả đứng tên. Tôi nằm đợi. Mưa ngoài kia to lắm, rồi người về nói lại, con hầu cúi xuống tai tôi, chữ nào ra chữ nấy:
— Cậu cả bảo: để đến sáng.
Tôi không đợi được đến sáng, cháu ạ.
Bà kể có thế thôi. Một nút chỉ. Tôi đã nói với cháu tôi không tìm cách trả thù, thật đấy, tôi chỉ muốn đừng nằm vào cái đêm ấy thêm lần nữa. Nhưng người mà tôi tránh trong hai đời, mười bảy tuổi, móng tay cắn cụt, lại đi nhắc đến tôi với nhà họ Đàm trước năm năm. Và ông ta biết tôi đếm.
Tôi không ngủ được từ đấy. Tôi quan sát. Thầy tôi lại đi công cán từ giữa tháng, nhà để cậu cả đứng tên trên. Tôi nhìn cậu ăn, nhìn cậu đi, nghe cậu đọc sách sai âm ở nhà ngoài và thầy đồ Thọ không dám chữa. Có sống lại ở đâu mà ra cái dáng ấy? Nếu tôi là cậu, sống lại, tôi sẽ... Tôi không nghĩ ra. Tôi chỉ thấy cậu đi lại bồn chồn, hay ra cổng ngách, và có lúc cậu quay đầu lại rất nhanh, như người bị ai đó gọi tên sau lưng.
Rằm tháng Chín trời đổ mưa, cái kiểu mưa trái mùa kéo cả ngày không tạnh, gió tạt nước ngang sân. Tối đến thì thằng Khoan gánh chuyến gạo cuối bị kẹt, sông lên, đường trơn, nó ở lại ngủ dưới mái chái cổng sau. Tôi biết vì lúc gần canh hai con Mận chạy thẳng vào nhà ngang, cả người ướt nhẹp, không đợi đứng lại đã kêu:
— Cô ơi dì ơi, ông Dậu, ông Dậu không thở được!
Mẹ tôi đứng dậy trước cả khi nó nói xong. Chúng tôi đi trong mưa, che một cái nón, qua hè bếp ra chái cổng. Ông già nằm trên cái chõng, đèn dầu chập chờn, mắt đục mắt trong trợn ngược, hai tay cào lên ngực. Tiếng thở của ông lúc này không còn như kéo cưa nữa, nó như người ta rút một sợi dây qua cái lỗ quá nhỏ. Môi tím lại. Vú Đãi ở đó rồi, chân sưng đứng dạng giữa vũng nước, tay đỡ gáy ông. Mẹ tôi quỳ xuống, luồn bàn tay vào sau lưng ông, xoa dọc sống lưng, không nói gì, xoa như giã gạo, chậm và mạnh. Ông ho ra được một tiếng rồi lại nghẹn.
— Phải có thầy lang, vú nói. — Thầy Kiệm ở đầu phố Vải, đi về chừng ba khắc. Phải có tiền mời, hai tiền, đêm mưa thì bốn, tiền ấy ra khỏi nhà phải có lời người trên. Bà cả đã uống thuốc đi nằm, quan đi vắng thì phải thưa cậu.
Bà nhìn quanh, rồi nhìn tôi, ánh mắt lúc nào cũng cân đong. Tôi chưa kịp nói gì, bà đã quát Mận. Con bé chạy đi lên nhà trên, tôi đi theo, tôi không biết sao tôi đi theo nữa, có lẽ vì tôi không chịu nổi tiếng thở ấy.
Thư phòng ngoài còn đèn. Cậu cả ngồi trong đó với một cuốn sách úp, hai chân gác lên ghế, cạnh tay có chén rượu, chứ không đọc gì. Mận quỳ ở bậc cửa, nói không ra hơi. Con lạy cậu, ông Dậu cổng sau lên cơn, sắp chết đến nơi, xin cậu cho mở cổng, cho tiền mời thầy lang. Tôi đứng ở góc cột, ngoài vùng ánh đèn, nước trên tóc chảy vào cổ.
Cậu không nhấc chân xuống. Tôi thấy cậu nhíu mày, chẳng có gì độc ác trong đó, chỉ là vẻ khó chịu của người đang có nhiều chuyện to hơn, người ta đang đem thêm một việc nữa đặt lên vai mình giữa đêm. Cậu đưa tay lên miệng, cắn cái móng ngón cái, rồi bỏ xuống, quay mặt đi:
— Đêm hôm mưa gió thế này. Ông ấy ho mấy năm nay rồi còn gì. Để đến sáng.
Cháu ạ. Bà đã sống tới bảy mươi hai tuổi, đã chôn nhiều người, bà không nhớ có khi nào lạnh như thế.
Tôi không thấy gì một lúc. Tôi nghe mưa, nghe mùi chiếu ẩm. Ba chữ, đúng ba chữ, đúng giọng ấy, cái giọng nói lơ đãng như đuổi con ruồi. Khi tôi thấy lại được thì con Mận đã lùi ra, đang khóc, còn tôi thì vẫn đứng đấy, tay nắm chặt tới mức móng cắm vào lòng tay. Mười ba tuổi. Cậu ta không biết tôi đứng đó.
Tôi quay người và chạy. Cháu biết tôi chưa bao giờ chạy, cô Tư đã nói rồi. Tôi chạy dọc hè, trượt, ngã đầu gối xuống gạch, đứng dậy, chạy tiếp ra chái cổng.
— Cậu bảo sao? vú hỏi.
Tôi nói ra được đúng mấy chữ ấy. Vú Đãi im, ngón tay vẫn đỡ gáy ông Dậu. Bà không chửi. Bà nhổ một bãi nước bọt rất gọn xuống vũng nước. Mẹ tôi không ngẩng lên, tay bà vẫn xoa dọc sống lưng ông già, bền bỉ, đều đặn.
— Thầy Kiệm ở phố Vải phải không vú?
Thằng Khoan ngồi dậy trên đống bao tải từ lúc nào, tôi không để ý. Nó đang xắn ống quần lên tới gối. Không có đòn gánh, không cười, tóc bết xuống trán.
— Cổng khoá, thằng kia. Không có lệnh, mày ra thế nào.
— Tường này thấp. Năm ngoái con trèo lấy quả sấu của quan rồi. Cái chân này để làm gì. Thầy lang đòi tiền thì mọi người tính sau.
— Nước sông lên ngập cả đoạn đầu phố, mày biết đường không?
— Con lớn lên ở dưới nước, vú ơi.
Nó không chờ ai bảo. Nó đi ra ngoài trời mưa, chân đất, đu người lên cây xoan, bóng nó nhảy qua bờ tường rồi mất. Thế thôi, nó chẳng phải người nhà ông Dậu, nó cũng không được đồng nào. Chị nó còn nợ nhà này mười tám quan, mà nó đi.
Một lát sau có người che áo tơi chạy từ nhà ngoài xuống, là thầy đồ Thọ, anh ta ngủ ở gian ngoài, nghe tiếng Mận khóc. Tôi mới thấy mặt anh gần như thế lần đầu, hai mươi tư tuổi, cái áo the sờn cùi chỏ, cầm theo cái đèn lồng của mình. Anh chẳng biết làm gì với người ốm, anh chỉ treo cái đèn lên, vái ông Dậu một cái rồi đứng nép vào vách cho khỏi vướng.
— Tôi có đọc mấy quyển sách thuốc mà không nhớ chữ nào đúng lúc, anh nói, tự giễu, không phải nói với ai. — Làm người có học thế là hỏng.
Chúng tôi đợi. Mẹ tôi xoa, vú đỡ, tôi cầm đèn, gió hất cái ngọn đèn ngả về một bên. Không ai nói gì. Có lúc ông Dậu tắt hẳn tiếng, cả ba cúi xuống, rồi ông lại kéo được một hơi. Tôi đếm hơi thở của ông, vì tôi không biết làm gì khác. Tôi đếm được hơn một nghìn hơi thì có tiếng người gọi cổng phía ngoài, và tiếng đập cổng, đập bằng nắm tay, rầm rầm, không thèm sợ ai. Vú Đãi cầm cái búa bổ củi đi ra, nện cho văng cái khoá phía trong, sáng ra có chịu tội thì chịu. Hai cánh cổng mở ra. Thằng Khoan đứng đấy, nước chảy ròng ròng, tay kéo một ông già cầm đèn lồng, ông thầy lang Kiệm một tay giữ cái tráp, chân đi guốc bị rơi mất một chiếc.
— Đuổi người ta ra khỏi giường giữa đêm, cái thằng này, nó vác tôi đi như vác bao gạo... Bệnh nhân đâu!
Ông châm cứu, cho uống thuốc. Tới gần sáng thì ông Dậu thở được. Lúc thu tráp, ông thầy lang bảo bốn tiền. Cả chái im lặng một lát, vú Đãi nhìn thằng Khoan, thằng Khoan nhìn chân mình, nó có bao nhiêu thì đã đưa cho chị. Tôi không có gì. Mẹ tôi đứng dậy, không nói một lời, đi về nhà ngang trong mưa đang ngớt, và khi quay lại thì bà ôm trên tay cái hũ sành. Trong đó là gạo nhặt ở sân, cộng với phần bà bớt ra hàng ngày không ai biết. Bà đổ vào cái túi vải của ông thầy lang, đổ bằng tay, không nhìn. Ông thầy lang xách lên cân thử, gật gù, nói đủ.
Đúng là đủ, tôi cho là không dư hạt nào.
Sáng hôm sau, cái khoá gãy nằm trên bậc cổng, cậu cả cho gọi vú Đãi lên, quát từ trong buồng ra, bảo đập khoá nhà quan giữa đêm là tội gì. Mẹ cả ngồi đó, bà không nói gì suốt cơn quát. Khi cậu đã hết hơi, bà hỏi một câu:
— Ông Dậu còn sống không?
— Dạ thưa bà, còn ạ.
— Cái khoá hết ba tiền. Trừ vào công vú. Bà ngừng một chút, ngón tay gõ khẽ lên tay vịn. — Thằng Khoan trèo tường. Lần sau nó trèo, gọi nó vào cửa chính, cho nó đi bằng cổng, đừng để nó ngã chết trong nhà ta, phiền. Thôi đi đi.
Tôi đứng ngoài hiên, nghe mà không hiểu nổi người đàn bà ấy.
Hai hôm sau, tôi gặp cậu cả ở khúc hành lang chỗ cái bình đã vỡ.
Tôi đi tìm gặp. Cháu nghe cho kỹ, vì chính tôi đã đi tìm. Tôi đã nghĩ suốt hai đêm. Muốn biết một người có nhớ không thì chỉ có một cách, là nói ra một cái ngày mà chỉ người nhớ mới hiểu. Tôi chọn nút thứ tư. Hăm ba tháng Chạp, cậu cả được khiêng về, gãy chân, cả nhà bảo ngã ngựa. Chuyện ấy chưa xảy ra, chưa ai trên đời biết được. Một người chưa từng sống qua nó sẽ chẳng hiểu tôi nói gì, sẽ chỉ gắt lên con này lẩm cẩm. Tôi bưng cái khay không, cúi đầu, đi đúng về phía ông ta lần đầu tiên trong hai đời, khoảng cách thu lại còn hai bước.
— Thưa anh cả, tôi nói, nhỏ, ngoan, mắt nhìn khay. — Em nghe người ta bảo năm nay hăm ba tháng Chạp xấu ngày. Anh cả đừng đi ngựa.
Tôi định đi tiếp. Tôi đi được nửa bước.
Một bàn tay chộp lấy cổ tay tôi. Cái khay rơi đánh keng xuống gạch, xoay tròn một lúc lâu rồi mới nằm im. Những ngón tay móng cụt siết vào xương tôi, siết tới mức các ngón tay tôi tê đi. Cậu cả cúi xuống. Mặt ông ta, lần đầu tiên tôi được nhìn thật gần trong cả hai đời mình, đã trắng bệch, trắng như vôi, môi run. Ông ta nhìn trước nhìn sau, rồi đẩy tôi vào cột, giọng thở ra thành tiếng rít, gần như không còn là giọng người.
— Ai bảo mày? Mày biết những gì rồi?