Chương 10: Sổ làng ghi, sổ Ty không
Thuộc tiểu thuyết Người Đứng Trong Chỗ Vỡ
Tác giả: Trần Phong · Thể loại: Huyền Huyễn · Đăng ngày · 1587 từ · khoảng 8 phút đọc
Hai người đi huyện về ngày hai mươi lăm tháng Sáu, mang theo quyển sổ làng và một tờ trát.
Trát của Ty Hộ Đê, giấy tốt, có dấu son, và chỉ có ba dòng.
Ông Trưởng Cựu đọc to giữa sân đình cho ai muốn nghe thì nghe.
*Suất vá làng Bãi Nổi hiện khuyết. Người làng cử là Vũ Đình Chốt, mười bảy tuổi, chưa đủ tuổi vào sổ. Hạn trình người đủ tuổi: hết ngày hai mươi tám tháng Bảy. Quá hạn, Ty điều thợ vá làng Đông Trạch sang, ruộng công ba sào chuyển theo.*
Đọc xong ông cuộn tờ trát lại.
"Hết." Ông nói. "Ai hỏi gì thì hỏi."
"Đông Trạch có thợ vá à ông?" Ai đó hỏi.
"Có. Nhà họ Lê. Người đang giữ suất là Lê Đắc Thiều, ba mươi tư tuổi."
"Ba mươi tư thì được mấy khấc rồi?"
"Tao không hỏi cái ấy."
Đám đông tản ra chậm. Người ta không bàn to, nhưng ai cũng bàn, và tới chiều thì cả làng đều đã nói tới cái tên Lê Đắc Thiều.
Ở góc sân, mấy bà ngồi bán hàng nước dọn hàng rất chậm, vì dọn nhanh thì hết chuyện.
"Lê Đắc Thiều là thằng nào ấy nhở?"
"Nhà họ Lê bên Đông Trạch chứ ai. Cái nhà có cái quán ở đầu cầu ấy."
"Ối giời, nhà ấy tôi biết. Vợ nó bán bún."
"Nó sang đây thì mình phải nuôi cơm à?"
"Nuôi cơm với lại nuôi cả ba sào ruộng đình."
"Gớm. Ruộng đình mà đem cho làng khác thì các cụ trong đình có ngồi yên không."
"Các cụ ngồi yên chứ. Các cụ có ăn đâu mà không yên."
Một bà khác chép miệng. "Rõ khổ. Nhà bà Sim còn ba miệng ăn."
"Thì thằng cả nó lớn rồi. Mười bảy chứ bé bỏng gì."
"Mười bảy mà Ty nó bảo chưa đủ tuổi thì cũng như mười hai."
Chốt đứng lại cuối sân đình.
"Ông ơi. Hết ngày hai mươi tám tháng Bảy là còn ba mươi ba ngày ạ?"
"Ừ."
"Rằm tháng Bảy nằm trong ba mươi ba ngày ấy."
Ông Trưởng Cựu nhìn nó.
"Ừ."
"Rằm tháng Bảy năm nào nước cũng lớn nhất."
"Ừ."
"Vậy nếu rằm tháng Bảy có chỗ vỡ, mà thợ vá Đông Trạch chưa sang, thì ai xuống ạ?"
Ông Cựu cuộn tờ trát chặt thêm một vòng, nhét vào ống tay áo.
"Câu ấy tao hỏi nha lại trên huyện rồi."
"Nha lại bảo sao ạ?"
"Bảo là chuyện của Ty."
Chốt gật đầu. Nó không hỏi thêm.
Chiều hôm ấy nó ra bến Sỏi.
Nứa đang khiêng tre với bố nó, hai người kéo một bó chừng hai chục cây từ ao lên bờ, bùn đen bám kín tới bẹn.
Thấy Chốt thì nó buông bó tre xuống, chạy lại.
"Trát về rồi hả?"
"Ừ."
"Bác thật à?"
"Bác thật."
Nứa chùi tay vào vạt áo. "Tao nghe người ta nói ngoài chợ rồi, mà tao chả tin. Mày vá được cả cái hàm ếch ở Cửa Hà cơ mà."
"Ty có biết cái hàm ếch ấy đâu."
"Thì đi mà nói cho Ty biết."
"Nói thì Ty hỏi ai làm chứng."
"Tao chứ ai. Tao giữ dây cho mày."
"Mày là con nhà nợ Ty ba mùa cọc." Chốt ngồi xuống mép bậc. "Lời mày nói ra thì Ty tính bằng mấy?"
Nứa im. Nó ngồi xuống cạnh, hai bàn chân xoè ra ngoài trên nền bùn.
"Chả nhẽ chịu à?"
"Ông Cựu bảo còn ba mươi ba ngày."
"Ba mươi ba ngày thì mày làm gì?"
"Tao chưa biết."
"Mày cứ chưa biết suốt."
"Ừ."
Bố cái Nứa gọi với từ dưới ao. Nó đứng dậy, phủi đít quần, rồi quay lại nói thêm một câu trước khi chạy xuống.
"Này. Cái hàm ếch ấy tao lặn lại hôm qua rồi đấy."
"Sao?"
"Vẫn kín. Mà cái vách ấy nó nhô ra thêm một chút so với hôm mày vá xong."
"Nhô ra?"
"Ừ. Như là nó vẫn đang mọc."
Tối hôm ấy ông Trưởng Cựu cho gọi nó lên nhà.
Nhà ông ba gian, gian giữa kê phản, và trên phản đặt quyển sổ làng cùng cái tráp đựng bút mực. Ông ngồi một mình, đèn dầu vặn to hơn mức người già thường vặn.
"Ngồi."
Chốt ngồi.
Ông Cựu mở sổ tới trang suất vá — cái trang mỏng nhất, cả trang bốn dòng, mỗi dòng một đời người. Bây giờ có năm dòng, dòng thứ năm là dòng ông viết chiều mười ba tháng Sáu.
Ông chấm bút.
"Mày kể lại chuyện đêm hai mươi mốt cho tao nghe. Kể kỹ vào."
"Kể để làm gì ạ?"
"Để tao ghi."
"Ty không tính sổ làng cơ mà ông."
"Ty không tính. Làng tính." Ông gạt mực vào thành nghiên. "Kể đi."
Chốt kể.
Nó kể từ chỗ xoi ba lần ở mái đê Cửa Hà, chỗ giữa không có tiếng. Kể chuyện cái Nứa lặn xuống sờ ra hàm ếch, sờ ra nước trong ấy đứng và ấm. Kể chuyện đào chếch từ trên xuống để gặp lõi khô. Kể chuyện buộc dây vào cổ chân.
Ông Cựu ghi. Ông ghi ngắn hơn Chốt kể rất nhiều, và cứ ghi được một dòng thì ông lại hỏi một câu.
"Đào sâu bao nhiêu mới gặp lõi?"
"Ngang ngực cháu ạ."
"Đào chếch bao nhiêu?"
"Cháu không đo. Chừng một phần ba so với thẳng đứng."
Ông ghi.
"Mấy nhịp thở?"
"Bốn mươi ba ạ."
Ông ngừng bút.
"Bố mày lần cuối bao nhiêu?"
"Chín mươi mốt."
"Lần đầu của bố mày bao nhiêu?"
"Cháu không biết ạ. Sổ nhà cháu không ghi."
Ông Cựu đặt bút xuống, với tay lấy quyển sổ làng, lật ngược về mấy trang trước — không phải trang suất vá mà là trang khác, trang ghi công phu hằng năm.
Ông lật khá lâu. Rồi ông dừng ở một trang đã ố vàng, dí ngón tay vào một dòng.
"Đây." Ông xoay quyển sổ lại cho Chốt nhìn. "Năm ấy tao mới làm trùm phu được hai năm."
Chốt cúi xuống đọc. Nét chữ trên dòng ấy nhỏ và nghiêng, không phải nét chữ của ông Cựu bây giờ.
*Mười chín tháng Bảy. Cống Ba Cửa, chân cống trong đồng. Vũ Đình Nhợ, mười tám tuổi, vá lần thứ nhất. Ba mươi bảy nhịp.*
"Ba mươi bảy." Chốt nói.
"Ừ."
"Cháu bốn mươi ba."
"Ừ."
Chốt ngồi im. Ông Cựu rút quyển sổ về, lật lại trang suất vá, và chấm bút.
"Ông ơi, ba mươi bảy với bốn mươi ba thì khác nhau ở đâu ạ?"
"Tao không biết." Ông Cựu viết. "Tao chỉ ghi. Ghi đủ lâu thì đời sau có cái mà đọc."
Ông viết xong, thổi cho mực khô, rồi đọc to lại dòng vừa viết, đọc chậm, đúng lệ.
*Hai mươi mốt tháng Sáu, canh ba. Cửa Hà, dưới mốc mười hai hai trăm bước. Hàm ếch, nước đứng. Vũ Đình Chốt, mười bảy tuổi, vá lần thứ nhất. Bốn mươi ba nhịp. Khấc thứ nhất.*
"Mày nghe rõ chưa?"
"Rõ ạ."
"Nghe rõ thì ký."
"Cháu ký thế nào ạ?"
"Điểm chỉ."
Chốt chấm ngón cái vào nghiên, dí xuống cuối dòng, ấn.
Cái dấu ra đậm, và trong dấu ấy thấy rõ mấy đường vân, giống hệt cái dấu cái Nứa để lại trên tờ giấy nó xé từ trang mười ba.
"Xong." Ông Cựu gấp sổ, buộc dây. "Giờ tao nói mày nghe một chuyện."
"Vâng ạ."
"Từ giờ tới hai mươi tám tháng Bảy, mày đừng vá nữa."
Chốt ngẩng lên.
"Nếu có chỗ thì sao ạ?"
"Có chỗ thì báo tao. Tao gọi Đông Trạch."
"Gọi sang thì mất ruộng ạ."
"Chưa mất. Gọi giúp một lần thì chưa mất. Quá hạn mới mất."
"Vậy sao ông bảo cháu đừng vá?"
Ông Trưởng Cựu đứng lên, chống gậy, đi ra tới cửa. Ông đứng ở ngưỡng cửa, lưng quay lại, và ngoài sân trời đã tối hẳn.
"Vì mày mười bảy tuổi, mày có một khấc, và mày vá lần đầu hết bốn mươi ba nhịp." Ông nói. "Mày chưa hiểu tao nói gì đâu. Cứ nghe đã."
"Cháu không hiểu thật ạ."
"Ừ. Đợi tới lúc mày hiểu thì muộn rồi."
Chốt về tới nhà thì bà Sim đã tắt đèn.
Nó không vào nhà ngay. Nó ngồi ở bậc hiên, cởi cúc áo trên cùng, và luồn ngón tay vào sờ dọc xương đòn bên trái.
Cái khấc thứ nhất nằm ở chỗ gần hõm cổ. Nó lấy đầu ngón tay đo: từ hõm cổ ra tới đấy chừng một đốt.
Rồi nó rê ngón tay tiếp, ra phía đầu vai, dọc hết cả cái xương.
Khoảng còn lại dài chừng bảy đốt ngón tay.
Nó ngồi thế một lúc rồi bỏ tay ra, cài lại cúc áo.
Trong bếp, than ủ dưới lớp tro còn đỏ. Chốt khều ra, thổi cho bùng lên, và đun một siêu nước dù chẳng ai uống.
Nước sôi thì nó rót ra bát, để nguội, rồi đổ đi.
Bên ngoài, phía sau nhà, con đê nằm ngang một dải đen, cao hơn nóc nhà chừng trượng rưỡi. Từ trong sân nhìn lên thì không thấy sông. Chỉ thấy đê. Cả làng Bãi Nổi, đứng ở đâu cũng chỉ thấy đê.
Chốt vào nhà, nằm xuống chỗ chiếu của mình cạnh cái Đài, và nằm mở mắt tới lúc gà gáy lượt đầu.