Chương 11: Bốn mươi tám trượng

Thuộc tiểu thuyết Người Đứng Trong Chỗ Vỡ

Tác giả: · Thể loại: Huyền Huyễn · Đăng ngày · 1605 từ · khoảng 8 phút đọc

Mồng Một tháng Bảy, hai người lính lệ xuống Bãi Nổi lúc gà chưa gáy hết lượt hai.

Họ không vào đình. Họ vào thẳng nhà ông Trưởng Cựu, đọc trát, bắt ông điểm chỉ vào sổ nhận, rồi đi luôn, không uống một hớp nước.

Tới sáng thì cả làng biết.

Bốn mươi tám trượng.

"Bốn mươi tám?" Ông Trạc hỏi lại, giọng không tin. "Đầu mùa Ty giao hai mươi tư."

"Ừ. Giờ gấp đôi." Ông Cựu đặt tờ trát lên phản. "Hạn cuối tháng Bảy."

"Chín trượng làm mất một tháng. Bốn mươi tám trượng làm trong hai mươi tám ngày?"

"Trát nó viết thế."

Đình đầy người. Không phải họp phu — chưa tới kỳ họp — nhưng nghe tin thì người ta tự kéo tới, và tới thì không ai về.

"Ông đọc lại xem có phải bốn mươi tám không." Một người nói.

Ông Cựu đọc lại. Đọc to, đọc chậm.

*Đoạn từ mốc năm tới mốc bảy, làng Bãi Nổi và Đông Trạch chia đôi, mỗi làng bốn mươi tám trượng kè phên đắp bù.*

"Đông Trạch cũng bốn mươi tám à ông?"

"Ừ."

"Đông Trạch có sáu mươi suất phu. Làng mình bốn mươi hai."

"Tao biết."

"Ông có kêu lên không?"

"Tao kêu rồi. Tao kêu ngay lúc hai thằng lính lệ còn đứng ở sân." Ông Cựu ngồi xuống mép phản, duỗi cái chân trái. "Nó bảo nó chỉ mang trát, không cãi được với trát."

Trong đình có tiếng lao xao rồi lặng.

Ông Trạc đứng lên. Ông là người có nhiều ruộng nhất làng, đóng nhiều suất phu nhất, và cũng là người ít nói nhất trong các kỳ họp.

"Tôi có một đường." Ông nói. "Nói ra thì các ông đừng chửi tôi."

"Nói đi."

"Bán ruộng đình."

Đình im phắc.

"Ba sào ruộng công hạng nhất, bán đi thì đủ mua công. Thuê phu làng khác, ba chục người làm mười ngày là xong bốn mươi tám trượng." Ông Trạc nhìn quanh. "Đằng nào Ty cũng đòi. Thợ vá nhà họ Vũ cũng chỉ còn hăm tám ngày nữa là mất suất, mà mất suất thì ruộng cũng đi theo người Đông Trạch. Vậy thì thà mình bán trước, còn giữ được cái tiền."

"Ông nói thế mà nghe được à?" Một bà đứng ngoài hiên quát vào. "Ruộng đình bốn đời nhà người ta ăn."

"Tôi nói cái lợi cho cả làng chứ tôi có tranh với nhà ai đâu."

"Cái lợi cái lãi gì. Ông bán ruộng đình thì các cụ trong kia đội mồ."

"Này này." Ông Cựu nện gậy xuống mặt phản. "Ai nói thì nói, đừng réo các cụ."

Chốt ngồi hàng thứ ba, chỗ cũ, lưng dựa vào cột.

Nó không nghe cãi nhau. Nó đang tính, và nó tính bằng cách vẽ lên mặt cột bằng đầu ngón tay ướt nước bọt — vẽ rồi mờ, mờ rồi vẽ lại.

Đoạn từ mốc năm tới mốc bảy.

Đoạn ấy, theo bước chân nó đếm đêm mười tám tháng Sáu, gồm hai quãng: mốc năm tới mốc sáu là một nghìn ba trăm mười bước, mốc sáu tới mốc bảy là hai nghìn sáu trăm bốn mươi.

Cộng lại gần bốn nghìn bước.

Mọi đoạn khác trên đê, mốc nào tới mốc nào cũng một nghìn ba. Riêng đoạn ấy dài gấp rưỡi cả hai quãng cộng lại.

Và Ty giao kè phên đắp bù đúng đoạn ấy, hai năm liền, năm ngoái mười sáu trượng, năm nay hai mươi tư rồi bốn mươi tám.

"Ông ơi." Nó đứng lên.

Cả đình quay lại. Ông Trạc ngừng nói.

"Gì?"

"Cháu hỏi một câu. Đoạn từ mốc năm tới mốc bảy, năm ngoái Ty giao mười sáu trượng, làng làm xong chưa ạ?"

Ông Cựu nghĩ một lúc.

"Xong."

"Xong thì đắp cao thêm được bao nhiêu?"

"Sổ tao ghi cao thêm hai thước."

"Vậy sao năm nay thầy cai đo lại thì lún bốn phân?"

Trong đình có tiếng ai đó "ừ" một tiếng nhỏ.

"Đắp cao hai thước, rồi lún bốn phân. Cháu không thấy lạ chỗ ấy." Chốt nói tiếp. "Cháu thấy lạ chỗ khác: năm kia đoạn ấy Ty giao bao nhiêu ạ?"

"Mười hai."

"Năm kìa?"

Ông Cựu lật sổ. Ông lật ba trang, dò ngón tay.

"Mười."

"Cứ năm sau nhiều hơn năm trước."

"Ừ."

"Mà toàn đoạn ấy."

Ông Cựu gấp sổ lại. Ông không đáp.

"Thằng bé nói cũng phải." Một ông già ngồi hàng đầu lên tiếng. "Cả mười chín dặm đê, có mỗi đoạn ấy năm nào cũng phải đắp bù."

"Đắp bù thì chỗ nào chả phải đắp bù." Ông Trạc nói.

"Chỗ khác thì đắp một lần được vài năm. Chỗ ấy năm nào cũng đắp mà năm nào cũng lún."

"Vậy ý ông là sao?"

"Tôi có ý gì đâu. Tôi chỉ thấy lạ."

Ông Trưởng Cựu ngồi im khá lâu. Rồi ông chống gậy đứng lên.

"Thế này." Ông nói. "Chuyện bán ruộng đình, tôi không bàn hôm nay. Muốn bàn thì đợi kỳ họp, có đủ giáp trên giáp dưới, có các cụ."

"Còn bốn mươi tám trượng?"

"Bốn mươi tám trượng thì mai bắt đầu. Chia bốn tổ, mỗi tổ mười người, làm luân phiên."

"Thiếu hai người."

"Thiếu thì tôi với thằng Chốt bù vào."

Ông đi ra cửa đình, rồi dừng lại.

"Thằng Chốt."

"Dạ."

"Mày muốn xem sổ hộ đê không?"

Cả đình quay lại nhìn ông.

"Sổ Ty ấy ạ?"

"Ừ. Sổ Ty. Cái quyển ghi mười chín dặm đê này dài bao nhiêu, mấy cột mốc, làng nào bao nhiêu suất."

"Cháu xem được ạ?"

"Không. Mày không xem được, tao cũng không xem được. Sổ ấy nha lại giữ, thầy cai giữ chìa tráp." Ông Cựu gõ đầu gậy xuống ngưỡng cửa. "Nhưng mai kia tao phải lên huyện nộp danh sách bốn tổ. Mày đi với tao. Đi rồi tính."

Sáng mồng Hai, bốn tổ ra đê.

Việc kè phên đắp bù chia làm ba chặng. Chặng thứ nhất là đóng cọc tre xuống chân mái đê, cọc cách cọc một thước, đóng thành hàng dọc. Chặng thứ hai là gài phên nứa vào giữa các cọc, gài chồng mép nhau, buộc lạt. Chặng thứ ba là gánh đất đổ vào sau lưng phên, đổ tới đâu đầm tới đấy.

Chốt vào tổ hai, làm chặng thứ ba.

Đê Quai Vạc đoạn từ mốc năm tới mốc bảy chạy qua một vùng bãi trũng, và ở đấy mái đê phía sông dốc hơn mọi đoạn khác. Cỏ trên mái mọc thưa. Đất lẫn cát, xúc lên thì rời, đầm xuống thì chặt được, nhưng gặp mưa là trôi.

Bãi thùng đấu — chỗ lấy đất — nằm phía trong đồng, là một cái hố rộng chừng ba sào, đào từ đời nào không ai nhớ, và mỗi năm lại rộng thêm một ít. Nước mưa đọng dưới đáy hố quanh năm, và trong nước ấy có cá rô.

Từ bãi thùng đấu lên tới mái đê là hai trăm bước, trong đó bốn chục bước cuối là dốc.

Gánh đất là việc nặng nhất và ít khéo nhất. Người ta lấy đất ở bãi thùng đấu cách chân đê hai trăm bước, xúc vào sọt, gánh lên mái đê, đổ, rồi quay lại. Một suất phu một ngày gánh bốn mươi gánh.

Buổi sáng đầu tiên Chốt gánh được ba mươi hai gánh. Buổi chiều nó gánh thêm được mười.

Tới gánh thứ ba mươi mấy thì vai nó bắt đầu tê, và cái tê ấy chạy từ vai xuống dọc cánh tay trái, dừng lại ở chỗ có cái khấc.

Nó đặt sọt xuống, ngồi lên bờ đất, và thở.

"Mệt hả?" Người phu đi cùng tổ, một ông tên Xảm, đặt gánh xuống theo. "Ngồi tí. Cai đê có xuống đâu mà sợ."

"Cháu không mệt ạ."

"Không mệt thì đứng dậy gánh."

Chốt cười, đứng dậy.

Ba ngày ấy làng làm được mười một trượng.

Ông Trưởng Cựu ghi vào sổ mỗi chiều một lần, ghi bằng cách khắc vạch lên một thanh tre riêng cho từng tổ, và tối thì chép từ thanh tre sang sổ.

Mười một trượng trong ba ngày. Còn ba mươi bảy trượng trong hai mươi lăm ngày.

Tính ra thì vừa đủ, nếu không mưa, nếu không ai ốm, và nếu mấy nhà đang gặt chiêm muộn chịu bỏ lúa lên đê.

Đắp được ba ngày thì thấy.

Chiều mồng Bốn, ông Xảm đang đầm đất ở đoạn giữa mốc sáu và mốc bảy thì dừng lại, chống cán đầm xuống, và gọi Chốt.

"Này. Mày lại đây xem cái này."

Chốt lại. Ông Xảm chỉ xuống chỗ vừa đầm.

"Tao đầm chỗ này từ sáng. Đầm mười lượt rồi."

"Rồi sao ạ?"

"Sáng nó cao ngang mắt cá tao. Giờ nó ngang bàn chân."

Chốt cúi xuống. Nó ấn ngón tay vào mặt đất mới đầm. Đất chặt, không lún dưới tay.

"Chú đầm mạnh không?"

"Mạnh chứ. Tao đầm ba chục năm nay rồi."

"Đất có ướt không?"

"Khô. Khô ráo."

Chốt đứng lên, đi lùi ra sau ba bước, và nhìn dọc theo mái đê.

Đoạn đắp mới chạy dài chừng hai chục trượng, và nhìn từ đây thì nó không phẳng. Nó cong xuống ở giữa — cong rất nhẹ, nhẹ tới mức đứng gần thì không thấy, và phải lùi ra và nhìn dọc thì mới thấy.

Nó lùi thêm mười bước nữa, và cái võng ấy rõ hơn.

"Chú Xảm ơi."

"Gì?"

"Chú lấy hộ cháu cái xoi."