Chương 12: Mép giấy còn răng cưa

Thuộc tiểu thuyết Người Đứng Trong Chỗ Vỡ

Tác giả: · Thể loại: Huyền Huyễn · Đăng ngày · 1525 từ · khoảng 8 phút đọc

Chốt xoi mười một chỗ dọc hai chục trượng đắp mới, chiều mồng Bốn tháng Bảy.

Bảy chỗ thụp. Ba chỗ bộp, đuôi ngắn. Một chỗ bộp, đuôi hơi dài hơn.

Nó ngồi xuống bờ đất, lấy sổ ra, ghi cả mười một chỗ vào trang mười hai, ghi kèm số bước từ cột mốc sáu.

Ông Xảm ngồi cạnh, nhìn nó viết.

"Mày ghi cái gì lắm thế?"

"Cháu ghi chỗ nào có tiếng gì."

"Ghi rồi thì biết được cái gì?"

"Cháu chưa biết ạ."

"Ừ thì cứ ghi." Ông Xảm nhổ bã trầu. "Ghi thì chả mất gì."

Ba chỗ bộp đuôi ngắn nghĩa là nước đọng, chưa đi. Một chỗ đuôi dài hơn thì phải xoi lại sau ba đêm. Trong sổ bố nó viết đúng thế, và đúng thế thì không có gì lạ cả — đoạn đê nào cũng có mấy chỗ như vậy.

Cái lạ không nằm ở tiếng. Cái lạ nằm ở chỗ đất đắp lên rồi lún, năm nào cũng lún, mà chỉ lún ở đúng đoạn ấy.

Tối, nó sang nhà ông Trưởng Cựu.

"Mai ông lên huyện ạ?"

"Ừ. Nộp danh sách bốn tổ."

"Ông cho cháu đi cùng."

"Tao đã bảo mày đi rồi còn gì."

"Cháu muốn xem cái sổ hộ đê."

Ông Cựu đang buộc dây quanh quyển sổ làng. Ông buộc xong, thắt nút, rồi mới ngẩng lên.

"Xem để làm gì?"

"Để xem đoạn từ mốc năm tới mốc bảy Ty ghi dài bao nhiêu."

"Ghi bao nhiêu thì đã sao?"

"Cháu đếm bước rồi ông ạ. Đoạn từ mốc sáu sang mốc bảy dài gấp đôi mọi đoạn khác."

Ông Cựu đặt quyển sổ xuống.

"Mày đếm bao giờ?"

"Đêm mười tám tháng Sáu. Đếm hai lượt."

"Hai lượt ra bao nhiêu?"

"Hai nghìn sáu trăm bảy mươi với hai nghìn sáu trăm bốn mươi ạ."

"Đoạn khác?"

"Một nghìn hai tới một nghìn ba."

Ông Trưởng Cựu ngồi im. Ông nhìn ngọn đèn dầu, và bấc đèn cháy tới chỗ có muội thì nổ lép bép một tiếng.

"Mày nói với ai chưa?"

"Chưa ạ."

"Đừng nói."

"Vâng."

"Mai lên huyện, mày đi sau tao ba bước, không hỏi gì, không nhìn ai. Tao vào nha thì mày đứng ngoài sân."

"Thế thì cháu xem sổ thế nào ạ?"

Ông Cựu thổi tắt đèn.

"Thì đứng ngoài sân mà xem."

Nha Ty Hộ Đê nằm ở rìa huyện lỵ, sau cái chợ, và trông thì giống một cái nhà kho hơn một cái nha.

Ba gian ngói, sân gạch, một cây bàng già, và dọc hiên có kê một dãy chum sành đựng nước mưa. Ngoài cổng có hai người lính lệ ngồi ăn cơm nắm.

"Làng nào đấy?" Một người hỏi, miệng còn đầy.

"Bãi Nổi ạ."

"Nộp gì?"

"Danh sách bốn tổ kè phên."

"Ối giời, Bãi Nổi bốn mươi tám trượng chứ gì." Người kia cười. "Gớm, làng bé mà gánh nặng nhở."

"Vâng ạ."

"Thì cứ vào. Nha lại còn chép sổ, ngồi mà đợi."

Ông Trưởng Cựu vào từ giữa buổi sáng. Chốt đứng ngoài sân, dưới gốc bàng, tay ôm cái tráp gỗ đựng sổ làng vì đấy là việc của người đi theo.

Từ chỗ gốc bàng nhìn vào gian giữa thì thấy hết.

Gian giữa kê hai cái bàn dài. Bàn ngoài là chỗ nha lại ngồi chép, có ba người. Bàn trong kê sát vách, trên bàn không có gì ngoài một cái tráp gỗ to bằng cái thúng, sơn then, có khoá đồng.

Ông Cựu trình danh sách. Nha lại nhận, đọc, đếm tên, rồi bắt đầu chép sang một quyển sổ khác.

Chép mất lâu. Chốt đứng dưới gốc bàng đủ lâu để đếm được số viên gạch lát từ chân thềm ra tới bậc cổng — bốn mươi hai hàng, mỗi hàng mười một viên.

Tới gần trưa thì Phan Tòng về.

Hắn về từ ngoài đồng, áo the đen, tay cầm cây thước gỗ sơn đen khắc vạch trắng, và gấu áo hắn vẫn sạch dù đường từ đê về đây có ba quãng lội.

Hắn đi qua sân, qua chỗ Chốt đứng, và hắn dừng lại.

"Thằng bé Bãi Nổi."

"Dạ."

"Ra đây làm gì?"

"Cháu ôm tráp cho ông trưởng cựu ạ."

Phan Tòng nhìn cái tráp trong tay nó. Rồi hắn đi vào gian giữa, đặt cây thước lên bàn trong, rút chìa khoá trong bọc ra, và mở cái tráp sơn then.

Trong tráp có một quyển sổ.

Quyển ấy dày gấp ba quyển sổ làng, bìa gỗ mỏng bọc vải, và gáy khâu bằng chỉ gai to. Phan Tòng nhấc nó ra, đặt lên bàn, mở.

Từ ngoài sân, cách chừng mười lăm bước, Chốt nhìn thấy hai thứ.

Thứ nhất: quyển sổ mở ra thì các trang không đều nhau. Có một chỗ, chừng giữa quyển, giấy gợn lên, cái kiểu gợn của tờ giấy đã bị gấp rồi vuốt lại.

Thứ hai: ở chính chỗ ấy, giữa hai trang, có một mép giấy nhô ra khỏi gáy. Mép ấy không thẳng. Nó lởm chởm, răng cưa, cái kiểu mép mà giấy để lại khi người ta xé chứ không cắt.

Chốt đứng im. Nó không nhích chân, không nghiêng đầu.

Phan Tòng lật vài trang, dò ngón tay xuống một cột, rồi cầm bút chấm mực ghi một dòng. Ghi xong hắn không gấp sổ ngay. Hắn ngồi đấy, một tay đặt lên mặt giấy, và nhìn ra sân.

Nhìn thẳng vào chỗ gốc bàng.

Chốt cúi xuống nhìn cái tráp trong tay mình, xoay nó lại cho ngay ngắn, rồi ngẩng lên nhìn về phía cổng, chỗ hai người lính lệ đang ăn.

Khi nó nhìn lại vào gian giữa thì quyển sổ đã đóng, và Phan Tòng đang tra chìa vào ổ khoá đồng.

Trên đường về, hai ông cháu đi bộ hết nửa ngày.

Đường từ huyện lỵ xuống Bãi Nổi men theo bờ một con ngòi, qua ba cái cầu tre, và tới quãng giữa thì có một cái quán nước lợp lá.

Ông Trưởng Cựu vào quán, gọi hai bát nước vối.

"Mày nhìn được gì?"

"Cháu nhìn được cái sổ ạ."

"Rồi sao?"

"Có một trang bị xé."

Ông Cựu đang bưng bát nước lên. Ông đặt xuống.

"Mày nhìn rõ chứ?"

"Rõ ạ. Mép giấy còn răng cưa, nhô ra khỏi gáy. Xé thì mới thế. Cắt thì mép nó thẳng."

"Chỗ nào trong quyển?"

"Chừng giữa ạ. Cháu không đếm được trang."

Ông Cựu cầm bát nước, uống một hớp, đặt xuống, rồi lại cầm lên.

"Sổ hộ đê ba trăm năm nay chưa thay quyển." Ông nói. "Cứ hết chỗ thì đóng thêm giấy vào gáy. Cái quyển ấy có mấy trăm trang."

"Vậy trang bị xé là trang cũ hay trang mới ạ?"

"Tao không biết."

"Nhìn màu giấy thì biết được không ông?"

"Biết. Nếu nhìn được." Ông Cựu quay sang. "Mày nhìn được màu không?"

"Không ạ. Cháu đứng xa quá."

Hai người im một lúc. Ngoài quán, một đàn vịt đi ngang bờ ngòi, và người chăn vịt cầm cái sào dài lùa chúng xuống nước.

Bà hàng nước rót thêm cho hai ông cháu, không lấy tiền bát thứ hai.

"Hai ông cháu ở dưới đê lên hử?"

"Vâng ạ."

"Năm nay nước thế nào hở ông?"

"Chưa biết. Còn rằm tháng Bảy."

"Rõ khổ. Năm nào cũng rằm tháng Bảy." Bà đặt ấm xuống. "Nhà tôi ở trong đê, cách chân đê một cánh đồng. Vỡ một cái là trôi cả."

"Chưa vỡ đâu bà ạ."

"Ông nói thế thì tôi nghe thế."

"Ông ơi."

"Gì?"

"Ông có bao giờ xem quyển sổ ấy chưa?"

"Có. Một lần."

"Bao giờ ạ?"

"Bốn mươi năm trước. Hồi tao mới làm trùm phu, phải lên nha nhận sổ giao suất, nha lại mở sổ hộ đê ra đối chiếu trước mặt tao."

"Hồi ấy có trang nào bị xé không ông?"

Ông Trưởng Cựu không đáp ngay. Ông uống nốt bát nước, gọi trả tiền, và đứng dậy trước khi trả lời.

"Hồi ấy tao không nhìn kỹ." Ông nói. "Hồi ấy tao ba mươi hai tuổi, mới nhận việc, và tao chỉ lo đếm cho đúng bốn mươi hai suất."

Họ đi tiếp. Ông Cựu đi trước, chống gậy, chân trái kéo trên mặt đường một tiếng đều.

Đi được một quãng thì ông nói thêm, không quay đầu.

"Nhưng tao nhớ một chuyện."

"Chuyện gì ạ?"

"Hồi ấy nha lại đọc cho tao nghe chiều dài đê Quai Vạc, đọc để tao chép vào sổ làng."

"Bao nhiêu ạ?"

"Hai mươi mốt dặm."

Chốt dừng lại giữa đường.

Ông Cựu đi thêm ba bước rồi cũng dừng, nhưng ông không quay lại.

"Ông ơi. Đê nhà mình mười chín dặm."

"Ừ."

"Cháu đi bộ hết cả con đê ấy không biết bao nhiêu lần."

"Tao cũng đi bốn mươi năm."

"Vậy sao sổ ghi hai mươi mốt?"

Ông Trưởng Cựu chống gậy đứng đấy, giữa đường đất, và mãi ông mới nói.

"Bốn mươi năm nay tao nghĩ là tao nhớ nhầm."