Chương 13: Đất đắp mà không dày lên

Thuộc tiểu thuyết Người Đứng Trong Chỗ Vỡ

Tác giả: · Thể loại: Huyền Huyễn · Đăng ngày · 1597 từ · khoảng 8 phút đọc

Từ mồng Bảy tới mồng Mười tháng Bảy, bốn tổ đắp thêm được chín trượng.

Cộng cả ba ngày đầu là hai mươi trượng. Còn hai mươi tám trượng, còn mười tám ngày.

Nghe thì được. Nhưng ông Trưởng Cựu đứng trên mặt đê chiều mồng Mười, nhìn dọc đoạn đắp, và ông không nói gì cả.

Chốt đứng cạnh.

"Ông thấy chưa ạ?"

"Thấy."

Đoạn đắp mới chạy dài hơn ba chục trượng bây giờ, và nhìn dọc theo thì nó võng xuống ở giữa. Cái võng ấy hôm mồng Bốn còn nhẹ tới mức phải lùi ra hai chục bước mới thấy. Hôm nay đứng ngay đầu đoạn cũng thấy.

"Ba ngày lún được bao nhiêu?"

"Cháu đo rồi ông." Chốt giơ một cây que tre. "Cháu cắm cái này hôm mồng Bảy, cắm sát mặt đất, chừa lên đúng một gang."

Trên cây que có một vạch dao khắc ngang.

"Giờ chừa lên bao nhiêu?"

"Một gang hai đốt ạ."

Ông Cựu cầm cây que, ngắm.

"Ba ngày lún hai đốt."

"Vâng."

"Hai đốt là hơn hai phân."

"Vâng ạ."

Ông Trưởng Cựu trả lại cây que.

"Đắp thì đắp lên. Lún thì lún xuống. Ba ngày lún hai phân thì mười tám ngày lún mười hai phân."

"Mà mình đắp cao thêm được bao nhiêu ạ?"

"Bốn mươi tám trượng kè phên, đắp bù thì tính ra cao thêm được hơn thước."

"Vậy tới cuối tháng thì đắp một thước, lún một tấc rưỡi."

"Ừ. Thế thì vẫn được." Ông Cựu quay đi. "Ty đo thấy cao lên là Ty ký."

"Ông ơi."

"Gì?"

"Cháu không lo Ty ký hay không ký."

Ông Cựu dừng lại.

"Mày lo cái gì?"

"Cháu lo cái đất mình đổ xuống nó đi đâu."

Việc đắp đê thì đất đổ xuống rồi lún là chuyện thường. Đất mới đắp bao giờ cũng xốp, đầm mấy cũng còn kẽ, và mưa xuống thì nó ngồi xuống, chặt lại. Người ta gọi là đất ngồi.

Đất ngồi thì lún đều, lún khắp mặt, và lún hết trong một mùa rồi thôi.

Chốt biết chỗ này trong sổ bố nó có ghi. Trang thứ sáu, ba dòng, và dòng cuối viết to hơn hai dòng trên.

*Đất ngồi thì lún đều. Lún có chỗ là chuyện khác.*

Chiều mồng Mười, sau khi tổ tan, Chốt ở lại một mình trên đoạn đắp.

Nó cắm chín cây que tre dọc theo ba chục trượng, cây cách cây bốn trượng, cây nào cũng chừa lên đúng một gang, và cây nào cũng khắc một vạch ngang ngay chỗ sát mặt đất.

Rồi nó về.

Sáng mười một nó ra sớm.

Chín cây que vẫn đứng nguyên. Nó đo từng cây bằng gang tay, và ghi vào sổ.

*Que một: một gang. Que hai: một gang. Que ba: một gang một đốt. Que bốn: một gang hai đốt. Que năm: một gang hai đốt rưỡi. Que sáu: một gang hai đốt. Que bảy: một gang một đốt. Que tám: một gang. Que chín: một gang.*

Nó ngồi nhìn cái hàng số ấy khá lâu.

Que một, hai, tám, chín không lún.

Que bốn, năm, sáu lún nhiều nhất.

Từ que ba tới que bảy là hai chục trượng. Ở giữa đoạn ấy, lún sâu nhất. Ra hai đầu thì nhạt dần rồi hết hẳn.

Không phải cả đoạn cùng ngồi xuống. Chỉ có một khúc ở giữa đang tụt.

Chốt gấp sổ, đi dọc từ que ba tới que bảy, vừa đi vừa dận gót thật mạnh xuống mặt đê.

Tới quãng giữa que bốn và que năm, cái tiếng dưới gót chân nó đổi.

Nó dận lại. Đổi thật. Ở chỗ ấy, gót chân dận xuống thì mặt đê trả lại một tiếng trầm hơn, và cái trầm ấy có một cái vọng rất nhỏ đi sau, vọng vào trong chứ không dội lên.

Nó chạy về nhà lấy cây xoi.

Xoi lần thứ nhất, sâu một gang: bộp, đuôi dài.

Xoi lần thứ hai, cách nửa bước, sâu một gang: bộp, đuôi dài.

Nó dận cây xoi xuống sâu hơn, dận cả hai chân lên đầu xoi, cho nó ăn xuống chừng khuỷu tay.

Rồi nó cúi tai xuống cán.

Không có tiếng.

Chốt rút xoi lên. Nó nhìn cái mũi xoi.

Mũi xoi khô. Cắm xuống đất ẩm mà rút lên thì mũi phải dính đất bết. Cái mũi này chỉ bám một lớp bụi khô, mịn, màu vàng nhạt, và trong lớp bụi ấy có mấy hạt li ti tròn như hạt kê.

Nó lấy đầu ngón tay quệt lấy mấy hạt ấy, đưa lên gần mắt.

Rồi nó đưa lên mũi ngửi.

Mùi ẩm mốc, hơi chua, mùi của gỗ mục để lâu trong chỗ kín.

Chốt ngồi bệt xuống mặt đê, giữa hai cây que tre.

Nó đã ngửi thấy cái mùi này một lần rồi, hồi lên chín, khi bố nó dỡ cái cột chuồng lợn bị mối ăn rỗng ruột. Bố nó cầm cái cột lên, gõ vào, và cái cột kêu bộp, rồi vỡ ra thành bụi, và trong bụi ấy có những hạt tròn nhỏ như hạt kê.

Rồng đất.

Nó về gọi ông Trưởng Cựu.

Ông lên tới nơi thì đã quá trưa. Ông chống gậy đi dọc từ que một tới que chín, dừng ở từng cây, cúi xuống nhìn cái vạch dao, rồi đi tiếp.

Tới que năm ông ngồi xuống, và ngồi khá lâu mới đứng lên được.

"Đưa cái xoi đây."

Ông xoi. Ông dận yếu hơn Chốt vì cái chân trái, nhưng ông xoi đúng chỗ Chốt đánh dấu, và ông cúi tai xuống cán lâu hơn cần thiết.

Rồi ông rút lên, nhìn cái mũi xoi, và lấy ngón tay quệt.

"Ừ." Ông nói.

"Rồng đất ạ?"

"Rồng đất."

Ông đưa cây xoi lại cho Chốt, và ngồi xuống bờ cỏ.

"Mày biết rồng đất ăn đê thế nào không?"

"Cháu biết nó ăn từ trong ra ạ."

"Từ trong ra là thế nào?"

Chốt lưỡng lự. "Là nó làm tổ trong lõi, rồi ăn rỗng dần."

"Ăn cái gì? Đất thì nó ăn làm sao được."

"Cháu không biết ạ."

"Nó ăn rễ. Rễ cỏ, rễ tre, rễ cây gãy còn sót trong đất đắp." Ông Cựu nhặt một nhánh cỏ, bẻ đôi. "Đê đắp bằng đất chở về, trong đất có rễ. Rễ mục thì để lại chỗ trống. Rồng đất theo chỗ trống ấy mà đi, đi tới đâu thì khoét rộng ra tới đấy, và nó chỉ đi trong chỗ khô."

"Chỗ khô là lõi."

"Ừ."

"Vậy tổ nó nằm ngay chỗ mà cháu vẫn phải thọc tay vào để vá."

Ông Trưởng Cựu quay sang nhìn nó.

"Ừ."

Hai người ngồi im. Trên mặt đê, chín cây que tre đứng thành một hàng, và cái hàng ấy không thẳng — nó võng xuống ở giữa, trông rõ mồn một khi nhìn ngang tầm mắt.

"Ông ơi. Đắp thêm thì có ích gì không ạ?"

"Đắp thêm thì nặng thêm."

"Nặng thêm thì chỗ rỗng sập nhanh hơn."

"Ừ."

"Vậy bốn mươi tám trượng Ty giao là đắp cho sập nhanh hơn."

Ông Cựu chống gậy đứng lên.

"Đấy là mày nói. Tao chưa nói."

"Ông không nghĩ thế à?"

"Tao nghĩ thế. Nhưng nghĩ với nói là hai việc." Ông phủi đất ở gấu quần. "Muốn nói thì phải biết nó rỗng bao nhiêu."

"Đo thế nào ạ?"

"Xoi. Xoi hết đoạn, chỗ nào không có tiếng thì đánh dấu. Xoi cả hai mặt, mặt đê với mái đê."

"Mất mấy ngày ạ?"

"Mày xoi một mình thì ba ngày."

Chốt nhìn dọc đoạn đê.

"Cháu không xoi một mình được ông ạ. Mái đê phía sông thì dưới chân ngập nước, xoi không tới."

"Thì phần dưới nước ai lặn?"

Chốt không đáp ngay.

"Cháu hỏi cái Nứa."

"Con nhà đóng cọc ấy hả?"

"Vâng."

"Nhà nó nợ Ty ba mùa cọc." Ông Cựu bắt đầu đi xuống dốc. "Mày nhớ cho kỹ cái đấy. Nó giúp mày một buổi thì Ty trừ nó một buổi lặn thuê, mà một buổi lặn thuê là một cây cọc."

Chiều ấy Chốt ra bến Sỏi.

Nứa ngồi trên bậc, đang chẻ lạt, và nghe hết chuyện thì nó buông con dao xuống.

"Ba ngày à?"

"Ừ. Mà phần dưới nước thì tao không xoi được."

"Mấy buổi lặn?"

"Tao chưa tính. Chắc bốn, năm buổi."

"Năm buổi là năm cây cọc." Nứa cầm con dao lên, chẻ tiếp. "Gớm, mày biết cách hỏi vay đấy nhở."

"Tao không bảo mày làm không công."

"Thế mày trả tao bằng gì?"

Chốt ngồi xuống bậc. Nó không có gì để trả, và nó biết là nó không có gì để trả.

"Tao chưa có gì."

"Ừ, tao biết." Nứa chẻ xong cây lạt, ném vào rổ, với cây khác. "Mà mày có biết vì sao thầy cai không cho tao lặn đúng đoạn ấy không?"

"Tao đang nghĩ mãi."

"Tao thì tao chả nghĩ. Tao chỉ thấy hai mùa nay tao lặn khắp, trừ đúng chỗ ấy, và giờ mày bảo chỗ ấy rỗng."

"Ừ."

"Rõ là có cái gì."

Nó chẻ nốt cây lạt cuối, đứng dậy, phủi vụn tre trên đùi.

"Mai mấy giờ?"

"Mày lặn thật à?"

"Chả nhẽ ngồi đây chẻ lạt." Nứa xốc rổ lên hông. "Nhưng mà này. Năm cây cọc là năm cây cọc. Mày nợ tao, tao ghi vào tờ giấy mày viết hộ tao hôm nọ đấy."

"Ừ."

"Ghi thật đấy nhá."

"Ừ. Ghi đi."