Chương 14: Mười tám trượng rỗng
Thuộc tiểu thuyết Người Đứng Trong Chỗ Vỡ
Tác giả: Trần Phong · Thể loại: Huyền Huyễn · Đăng ngày · 1624 từ · khoảng 8 phút đọc
Xoi hết đoạn mất ba ngày, đúng như ông Trưởng Cựu nói. Chốt xoi mặt đê. Cái Nứa lặn xoi phần chân đê dưới nước, dùng một cây xoi ngắn hơn mà bố nó cắt riêng cho vừa tay. Cách làm hai đứa bàn với nhau ở bến Sỏi tối mồng Mười. "Mày xoi trên, tao xoi dưới." Nứa nói. "Nhưng dưới nước thì tao nghe cái gì." "Mày không cần nghe. Mày chỉ cần đếm." "Đếm gì?" "Đếm xem cây xoi ăn xuống sâu bao nhiêu trước khi nó khựng lại." Nứa hiểu ngay. Nó là dân đóng cọc, và đóng cọc thì cả nhà nó sống bằng việc biết cọc ăn sâu tới đâu. "Chỗ đặc thì cọc ăn chậm. Chỗ rỗng thì nó tụt cái ực." "Ừ." "Thế thì dễ." Ba ngày ấy hai đứa làm từ sáng tới lúc không nhìn thấy tay mình nữa. Chốt xoi trên mặt đê, cứ nửa trượng một lỗ, xoi suốt chín mươi sáu trượng kè phên mà Ty giao cho hai làng — bốn mươi tám của Bãi Nổi, bốn mươi tám của Đông Trạch. Chín mươi sáu trượng là một trăm chín mươi hai lỗ. Nó ghi từng lỗ vào trang mười ba, mười bốn và mười lăm của cuốn sổ, ghi bằng ba ký hiệu tự đặt: một vạch đứng cho "thụp", một vạch ngang cho "bộp", một vòng tròn nhỏ cho "không có tiếng". Chiều ngày thứ ba, nó trải cả ba trang ra dưới ánh nắng ở bờ cỏ. Một trăm chín mươi hai ký hiệu, xếp thành một hàng dài. Đầu hàng là vạch đứng, đứng suốt mười mấy cái. Rồi bắt đầu xen vạch ngang. Rồi tới quãng giữa thì vạch đứng biến mất hẳn, chỉ còn vạch ngang và vòng tròn, và có một khúc mười mấy cái vòng tròn liền nhau không đứt. Rồi ra tới cuối, vòng tròn thưa dần, vạch ngang thưa dần, và lại thành vạch đứng. Cái hàng ký hiệu ấy trông giống một cái gì đó đang nằm. Ngày thứ hai là ngày lặn. Chốt ngồi trên mạn thuyền nan giữ dây. Đầu dây kia buộc ngang lưng cái Nứa, thắt kiểu nút của dân đóng cọc, giật một cái là bung. "Tao giật một cái là kéo." Nứa nói. "Giật hai cái là thả thêm." "Ba cái?" "Ba cái là tao chết rồi, kéo lên làm ma cũng được." Nó cắn cây xoi ngang miệng rồi lộn người xuống. Mặt nước khép lại. Sợi dây trong tay Chốt chùng ra từng đoạn ngắn, đều đặn, như có người dưới ấy đang bước. Nó đếm. Đếm tới bốn mươi thì dây giật hai cái. Nó thả thêm một sải. Đếm tới bảy mươi thì Nứa ngoi lên, hớp một hơi dài, tóc dính bết vào má. "Bảy lỗ." Nứa thở. "Từ mốc năm sang được bảy lỗ." "Ăn thế nào?" "Chặt. Dận gãy cả cổ tay." Nó lại lặn. Lần này lâu hơn. Cứ thế tới quá trưa. Chốt ngồi giữ dây, tay phồng lên rồi rát, rồi tê hẳn, và mỗi lần Nứa ngoi lên nó lại nghe một con số. Bảy lỗ chặt. Rồi thêm năm lỗ chặt. Rồi ba lỗ hơi mềm. Rồi có một lần Nứa ngoi lên mà không nói gì. Nó bám mạn thuyền, thở, nhìn xuống mặt nước. "Sao?" "Tao dận một cái." Nứa nói. "Cây xoi nó đi mất." "Đi mất là sao?" "Là tao không thấy đáy. Tao đẩy cả cánh tay xuống theo, tới nách, vẫn không chạm gì." Chốt ngồi im trên mạn thuyền. "Mày rút ra ngay chứ?" "Tao rút ngay. Nhưng lúc rút ra thì có nước theo cây xoi mà ra." "Nước dưới sông thì đâu chả có nước." "Không phải nước ấy." Nứa lấy tay quệt mặt. "Nước đục. Đục như nước gạo. Nó phun ra một cục rồi tan." Nước đục là nước từ trong lòng đê chảy ra. Nghĩa là bên trong con đê ở chỗ ấy đã có một cái ống, và cái ống ấy đang thông ra sông. "Mày lên." Chốt nói. "Còn mười mấy lỗ." "Mày lên đi." Nứa nhìn nó, rồi trèo lên thuyền, ngồi bó gối, run từng cơn ngắn vì lạnh chứ không vì sợ. Ngày thứ ba hai đứa không lặn nữa. Chốt xoi nốt phần trên, Nứa ngồi bờ ghi hộ, và cả hai không nhắc lại cái cục nước đục. "Đếm hộ tao cái vòng tròn." Chốt nói. Nứa cúi xuống, đưa ngón tay dò theo hàng, mấp máy môi. "Ba mươi sáu." "Ba mươi sáu lỗ. Mỗi lỗ nửa trượng." "Mười tám trượng." Nứa ngẩng lên. "Mười tám trượng rỗng." Chốt gấp sổ. "Dưới nước mày thấy sao?" Nứa lấy que vạch xuống đất một đường dài. "Đây là chân đê." Nó vạch một đường thứ hai song song bên trên. "Đây là chỗ tao xoi. Từ đầu này tới đây" — nó chấm một điểm — "cọc ăn chậm, tao phải dận ba bốn lần mới xuống được một gang." "Rồi?" "Từ đây tới đây" — nó vạch một khoảng ở giữa — "cọc tụt. Tao dận một cái nó xuống hết cả cánh tay." "Khoảng ấy dài bao nhiêu?" "Tao đo bằng dây. Mười tám sải." Chốt ngồi im. "Mười tám sải là bao nhiêu trượng?" "Chín trượng." Nứa nói. "Nhưng mày nghe kỹ này. Cái khoảng dưới nước ấy nó không nằm ngay dưới cái khoảng của mày." "Lệch à?" "Lệch. Lệch về phía cống Ba Cửa chừng bốn sải." Chốt cầm que, vẽ lại cả hai đường trên đất, rồi vẽ hai cái khoảng chồng lên nhau nhưng lệch. Hai khoảng ấy giao nhau ở giữa, và chỗ giao là chỗ rỗng cả trên lẫn dưới. "Chỗ này." Nó chấm que xuống. "Chỗ này rỗng suốt từ mặt đê xuống tới chân." "Rỗng suốt là sao?" "Là không còn gì giữ nữa. Trên thì đất đắp mới, đắp bao nhiêu nặng bấy nhiêu. Giữa thì tổ rồng đất. Dưới thì nước đã khoét vào tới đấy rồi." Nứa nhìn cái hình vẽ trên đất khá lâu. "Rằm tháng Bảy là mấy hôm nữa?" "Bốn hôm." "Rằm tháng Bảy nước lên tới mốc mấy?" "Năm ngoái tới mốc ba. Năm kia tới mốc ba rưỡi." "Chỗ này là mốc mấy?" Chốt không đáp. Nó lấy que xoá cái hình đi, rồi vẽ lại từ đầu, lần này vẽ cả cái cột mốc. Chỗ rỗng nằm ngang vạch mốc hai rưỡi. "Tức là rằm tháng Bảy nước sẽ ngập lên trên chỗ rỗng nửa trượng." Nó nói. Nứa ngồi xuống bệt trên cỏ. "Mày phải nói với ông Cựu." "Ừ." "Nói ngay đi." "Ừ." Nhưng cả hai đứa vẫn ngồi đấy, nhìn cái hình vẽ trên đất, cho tới lúc mặt trời xuống hẳn sau dải bãi giữa dòng. Về tới nhà thì đèn đã thắp. Mẹ nó ngồi ở góc phản vá cái áo cánh, kim đưa chậm vì mắt kém. Nghe tiếng chân, bà không ngẩng lên. "Cơm nguội ở chạn. Mày ăn đi rồi hẵng làm gì thì làm." Chốt xới cơm, ngồi bệt xuống ngưỡng cửa ăn. "Ba hôm nay mày với con Nứa nhà ông Rào ra ngoài đê làm gì mà tối mịt mới về?" Bà vẫn cúi. "Người ta hỏi tao, tao chả biết đường nào mà đáp." "Con xoi đê." "Xoi đê. Bố mày ngày xưa cũng xoi đê." Kim dừng một nhịp rồi lại đi. "Xoi xong thì ông ấy nằm ở gò Vá. Mày biết cái đấy chứ?" "Con biết." "Biết mà vẫn xoi." "Mẹ ạ." Chốt đặt bát xuống. "Đoạn từ mốc năm sang mốc bảy nó rỗng ruột. Rỗng mười tám trượng." Bà ngừng kim hẳn. "Rỗng là làm sao?" "Là bên trong không còn đất nữa. Rồng đất nó ăn hết rồi. Bên ngoài nhìn vẫn là con đê, sờ vẫn là con đê, nhưng bên trong là cái ống." "Ối giời." Bà đặt cái áo xuống lòng. "Thế thì rằm này..." "Rằm này nước lên qua chỗ ấy nửa trượng." Bà ngồi im rất lâu. Ngoài sân con chó nằm dưới gốc cau trở mình. "Mày định làm gì?" "Ngày kia con lên đình trình ông Cựu. Ông Cựu trình lên thầy cai. Thầy cai trình Ty." "Rồi Ty nghe mày à?" "Con không biết." "Không biết cơ mà vẫn đi." Bà nhặt cái áo lên, tìm lại chỗ mũi kim dở. "Cái nhà này rõ khổ. Ba đời rồi vẫn thế. Ông nội mày cũng đi trình, bố mày cũng đi trình, và lần nào cũng phải để đến lúc vỡ rồi người ta mới tin." "Vậy con phải làm sao?" "Tao có biết đâu." Bà xâu chỉ, xâu ba lần mới lọt. "Tao chỉ dặn mày một câu. Trình thì trình, nhưng đừng có nói cái tiếng ấy ra." "Tiếng gì?" "Cái tiếng bố mày ghi trong sổ. Cái hàng thứ tư ấy." Chốt nhìn mẹ. Bà vẫn cúi mặt vào mũi kim. "Sao lại không nói?" "Vì cả cái huyện này chỉ nhà mày nghe được nó." Bà nói. "Mà cái gì chỉ mỗi mình mình nghe được thì người ta không gọi là bằng cớ. Người ta gọi là mày bịa." Đêm ấy Chốt mở sổ, giở tới trang mười ba, nhìn hàng ký hiệu mình vẽ ba hôm nay. Ba mươi sáu vòng tròn nằm giữa, và hai đầu là vạch. Nó lấy bút chì, viết xuống dưới hàng ấy một dòng chữ nhỏ: *Mười tám trượng. Từ mốc năm sang mốc bảy. Chỗ sâu nhất cách mốc sáu mười một trượng về phía cống Ba Cửa.* Rồi nó gấp sổ, thổi tắt đèn, và nằm nghe ngoài kia con sông đi.