Chương 15: Con số trong sổ Ty

Thuộc tiểu thuyết Người Đứng Trong Chỗ Vỡ

Tác giả: · Thể loại: Huyền Huyễn · Đăng ngày · 1703 từ · khoảng 9 phút đọc

Ngày mười ba, điếm canh đê chân cột mốc sáu.

Ông Trưởng Cựu tới trước, ngồi xuống cái chõng tre, dựng gậy vào cột. Ông lý Hoè tới sau, mang theo cái tráp gỗ và cây thước.

Điếm canh đê là một cái nhà ba gian lợp rạ, dựng trên nền đất cao hơn mặt đê chừng một thước, để mùa lũ có chỗ cho phu trú. Trong điếm có một cái chõng tre, một chum nước, một cái trống cái treo trên xà, và bốn cây đuốc nhựa trám bó sẵn dựng góc nhà. Mùa cạn thì trống phủ chiếu, đuốc để nguyên. Mùa nước thì cả hai đều dỡ ra.

Hôm ấy chiếu trên mặt trống đã được dỡ.

Chốt tới từ sớm, ngồi ngoài hiên, không vào. Nó mặc cái áo lành nhất, tức là cái áo có ít mụn vá nhất, và mẹ nó đã bắt nó rửa chân hai lần trước khi ra khỏi ngõ.

Nắng lên tới nửa buổi thì ông Trưởng Cựu thôi ngồi, chống gậy ra đứng đầu hiên nhìn về phía đường cái.

"Giờ này mà chửa thấy tăm hơi." Ông nói. "Rõ khổ. Người ta ở tỉnh thì người ta có giờ của người ta."

"Ông ạ." Chốt hỏi. "Thầy cai ấy có dễ nói không?"

"Dễ gì mà dễ." Ông Cựu nhổ bã trầu xuống chân hiên. "Ông ấy coi cả bốn hạt, mỗi hạt một con đê. Đê nào cũng có người kêu. Kêu nhiều quá thì thành ra chả ai nghe nữa."

"Thế thì con nói làm sao?"

"Nói cái gì đếm được. Đừng nói cái gì mày nghe được." Ông gõ đầu gậy xuống ngưỡng cửa. "Người ta không ngồi vào tai mày được, cơ mà người ta đếm được cái lỗ mày xoi."

Người thứ ba tới lúc gần trưa, đi ngựa, có hai lính lệ đi bộ theo sau.

Thầy cai Phan Tòng của Ty Hộ Đê. Áo the, mặt gầy, tuổi chừng bốn mươi. Ông ta xuống ngựa, phủi ống quần, nhìn quanh một vòng rồi bước vào điếm mà không chào ai.

"Việc gì mà phải gọi tôi ra tận đây."

"Bẩm thầy." Thầy cai đứng dậy. "Có thằng bé nhà họ Vũ trình một việc về thân đê."

"Nhà họ Vũ." Phan Tòng ngồi xuống. "Nhà thợ vá phải không."

"Bẩm phải."

Ông ta không nói gì thêm, chỉ đưa mắt về phía Chốt, đứng ngoài hiên điếm, tay ôm cuốn sổ.

"Vào."

Chốt vào. Nó đặt cuốn sổ lên mặt chõng, mở tới trang mười ba.

"Bẩm thầy. Đoạn từ cột mốc năm sang cột mốc bảy rỗng ruột. Mười tám trượng."

"Rỗng ruột." Phan Tòng nhìn xuống trang giấy. "Đây là cái gì?"

"Bẩm, con xoi một trăm chín mươi hai lỗ dọc thân đê. Vạch đứng là chỗ đặc. Vạch ngang là chỗ hơi mềm. Vòng tròn là chỗ rỗng."

"Cậu xoi bằng gì?"

"Bằng cây xoi sắt của bố con. Dài một trượng hai."

"Đê chỗ ấy cao mấy trượng?"

"Bẩm, hơn ba trượng."

Phan Tòng ngẩng lên.

"Cây xoi của cậu dài một trượng hai. Thân đê dày hơn ba trượng. Vậy cậu chọc thủng được một phần ba, rồi cậu bảo tôi rằng cậu biết hai phần ba còn lại ra sao."

Ông Trưởng Cựu định nói. Thầy cai đưa tay ngăn.

"Bẩm thầy, còn phần dưới nước." Chốt nói. "Con nhờ người lặn xoi chân đê. Có chỗ cây xoi tụt hết cả sải mà không chạm đáy."

"Người nào lặn?"

"Bẩm, con Nứa nhà ông Rào."

"Con gái?"

"Bẩm phải."

"Mười mấy tuổi?"

"Mười sáu."

Phan Tòng gập cuốn sổ lại, đẩy trở về phía Chốt.

"Vậy là hai đứa trẻ con lấy một cây sắt chọc vào con đê ba trăm năm, rồi lên đây bảo tôi rằng con đê ấy rỗng."

"Bẩm—"

"Cậu có biết tôi phải làm gì nếu tôi tin cậu không?" Phan Tòng nói, giọng vẫn đều. "Tôi phải xin lệnh bổ thân đê. Bổ mười tám trượng, sâu ba trượng. Muốn bổ thì phải hạ mặt đê xuống trước đã. Ba hôm nữa là rằm. Cậu bảo tôi hạ mặt đê xuống ba hôm trước rằm tháng Bảy à?"

Chốt im.

"Nếu trong ấy đặc thì sao?" Phan Tòng hỏi tiếp. "Tôi tự tay mở một cái cửa vào con đê rồi để nước rằm đi qua đấy. Hai mươi bảy làng. Cậu chịu được cái ấy không?"

"Bẩm, con không chịu được."

"Vậy thì cậu đừng bảo tôi làm cái mà chính cậu không chịu được."

Chốt đứng đấy và nó biết mình đã thua chỗ nào.

Nó vào đây với một trăm chín mươi hai cái lỗ và một con số đo bằng dây thừng dưới nước. Nó tưởng đấy là bằng cớ. Nhưng bằng cớ của nó là một hàng ký hiệu tự đặt trong cuốn sổ của một người chết tám năm rồi, và người đọc nó là một đứa mười bảy tuổi.

Còn thầy cai thì có một cuốn sổ bìa xanh bịt đồng, có dấu son, có chữ ký quan hạt của bốn mươi năm liền.

Hai thứ ấy đặt cạnh nhau thì không phải là một cuộc cãi. Chỉ là một bên có giấy, một bên không.

Ngoài điếm có tiếng gió qua bụi tre. Ông lý rót nước, tay hơi run.

"Bẩm thầy, hay là ta cứ cho đắp bù thêm đoạn ấy." Ông ta nói. "Đắp bù thì không phải bổ, mà cũng yên tâm hơn."

"Đắp bù bao nhiêu năm rồi?"

"Bẩm, năm nào cũng đắp."

"Năm nào cũng đắp mà nó vẫn thấp. Ông có bao giờ hỏi tại sao không?"

Thầy cai không đáp được.

"Bẩm thầy, đấy chính là cái con muốn trình." Chốt nói. "Đắp mà đê không dày lên, là vì đất đắp lên rồi sụt xuống trong ruột. Chỗ ấy nó nuốt đất."

Phan Tòng nhìn nó lần đầu tiên cho ra nhìn.

"Cậu học đâu ra cái lối nói ấy?"

"Bẩm, trong sổ bố con."

"Bố cậu chết năm nào?"

"Bẩm, năm con lên chín."

"Vậy là tám năm rồi." Phan Tòng nói. "Tám năm nay con đê ấy vẫn đứng."

Ông ta mở tráp, lấy ra một cuốn sổ bìa xanh, dày gấp ba lần cuốn sổ của Chốt, mép giấy còn nguyên chỉ khâu. Đấy là sổ hộ đê của Ty, mỗi hạt một cuốn, mỗi năm một lần đối chiếu.

Ông ta giở tới trang đầu, xoay cuốn sổ lại cho cả điếm cùng nhìn, rồi đọc bằng giọng của người đọc công văn, chậm và tách từng chữ.

"Đê Quai Vạc, hạt Ứng Thiên. Khởi từ cống Ba Cửa, chung tại gò Vá. Toàn trường hai mươi mốt dặm. Mốc đá ba mươi mốt cây."

Ông ta gấp sổ.

"Ba mươi mốt cây mốc. Hai mươi mốt dặm. Đấy là con đê tôi coi. Còn con đê của cậu là con đê nào?"

Chốt đứng đấy, và trong đầu nó có một cái gì đó vừa lệch đi một nấc.

Nó đã đi hết con đê ấy. Đi bốn lần, hai lần theo bố lúc còn bé và hai lần một mình sau khi bố chết. Nó đếm bước. Nó đếm mốc.

Mười chín dặm. Hai mươi bảy cây mốc.

"Bẩm thầy." Nó nói, và nghe tiếng mình nhỏ hơn nó tưởng. "Con đi hết con đê rồi. Con đếm được hai mươi bảy cây mốc."

Điếm im.

Thầy cai đặt chén nước xuống rất khẽ.

"Cậu đếm sai." Phan Tòng nói.

"Bẩm, con đếm bốn lần."

"Bốn lần sai bốn lần." Ông ta cất cuốn sổ vào tráp, đóng nắp. "Sổ này lập từ đời Cảnh Hưng, mỗi năm Ty đối chiếu một lần, năm nào cũng có chữ ký của quan hạt. Cậu mười bảy tuổi, đi chân đất, đếm bằng bước chân. Cậu bảo tôi tin cái nào?"

Ông ta đứng dậy, và câu cuối ông ta không nói với Chốt mà nói với thầy cai.

"Đắp bù đoạn ấy như mọi năm. Thêm hai trăm gánh. Tôi ghi vào sổ là đã ra xem."

Rồi ông ta ra sân, lên ngựa, đi.

Ba người còn lại ngồi trong điếm một lúc lâu không ai nói.

Ông lý thu cây thước, thu tráp, đứng dậy trước.

"Thằng Chốt này." Ông ta nói, không nhìn nó. "Tao ghi cho mày một dòng vào sổ làng là mày có trình. Ghi thế thôi. Sau này có việc gì thì cái dòng ấy là của mày."

Rồi ông ta cũng đi.

Ông Trưởng Cựu vẫn ngồi. Ông chống gậy, đứng lên khó nhọc, rồi đứng đó nhìn ra phía con sông.

"Ông ạ." Chốt nói. "Hai dặm."

"Ừ."

"Hai dặm đê thì đi bộ mất non một canh giờ. Không phải cái kim mà lẫn được."

"Chả lẫn được thật."

"Vậy hai dặm ấy ở đâu?"

Ông Cựu không đáp ngay. Ông đi ra khỏi điếm, xuống dốc đê, tới chỗ cột mốc sáu, đứng đấy đặt bàn tay lên mặt đá.

"Mày nhìn cái mốc này." Ông nói. "Đọc chữ khắc trên đầu nó xem."

Chốt cúi nhìn. Trên đầu cột đá có khắc một chữ số, mòn nhưng còn rõ.

Sáu.

"Rồi. Giờ mày đi lên mốc sau, đọc cho tao."

Chốt đi. Đoạn từ mốc sáu sang mốc bảy là đoạn dài nhất trên cả con đê, dài gần gấp đôi mọi đoạn khác, cái đó nó biết từ lâu và chưa bao giờ thấy lạ. Đi hết đoạn ấy mất một lúc.

Tới nơi, nó cúi xuống đọc.

Bảy.

Nó đứng thẳng dậy, nhìn ngược lại quãng đê vừa đi qua, dài và trống, cỏ mọc đều, không có gì cả.

Rồi nó hiểu ra cái nó vừa đọc.

Nếu đoạn này dài gấp đôi, thì giữa mốc sáu và mốc bảy lẽ ra phải có một cây mốc nữa.

Bốn cây. Giữa hai mươi bảy và ba mươi mốt là bốn cây mốc.

Bốn cây mốc, hai dặm đê, đã từng có ở đây và bây giờ không còn.

Gió trên mặt đê thổi ngang, và ở dưới kia con sông đi, đục và chậm, đúng như nó vẫn đi ba trăm năm nay.