Chương 16: Ba hồi trống

Thuộc tiểu thuyết Người Đứng Trong Chỗ Vỡ

Tác giả: · Thể loại: Huyền Huyễn · Đăng ngày · 1576 từ · khoảng 8 phút đọc

Rằm tháng Bảy, nước lên từ canh năm. Đến sáng thì đã qua mốc một. Đến trưa qua mốc hai. Cả cái làng Bãi Nổi đứng trên mặt đê nhìn xuống, và không ai nói năng gì nhiều, vì năm nào cũng thế, năm nào nước cũng lên tới đây rồi dừng. Chỉ có điều năm nay nó lên nhanh hơn. Ông Trưởng Cựu ngồi ở cột mốc sáu từ sáng, đặt một hòn gạch ở mép nước, cứ một khắc lại ra xem nước đã ngập hòn gạch chưa. Ngập thì ông nhích hòn gạch lên một tầm tay. Buổi sáng ông nhích ba lần. Từ trưa tới đầu giờ chiều ông nhích năm lần. "Ông ơi." Chốt ngồi cạnh. "Con đếm được rồi. Cứ nửa canh giờ nó lên một gang." "Trên nguồn mưa." Ông Cựu nói. "Mưa từ hôm kia. Nước nguồn nó xuống tới đây mất hai ngày." "Thế đêm nay nó lên tới đâu?" "Tao có phải giời đâu." Nhưng ông nhìn hòn gạch, rồi nhìn cái cột mốc, rồi lấy đầu gậy vạch một vạch lên thân cột đá, cao hơn mặt nước bấy giờ chừng hai thước. "Đêm nay nó tới đây." Ông nói. "Còn tới đâu nữa thì tao chịu." Vạch ấy nằm trên mốc hai rưỡi. Chốt nhìn cái vạch và không nói gì. Cái vạch ấy cao hơn chỗ rỗng nửa trượng, đúng như nó tính hôm mồng Mười. Đầu giờ chiều, đám phu đắp bù kéo tới. Hai trăm gánh đất, đúng như thầy cai Phan Tòng ghi vào sổ. Bốn mươi người, mỗi người năm gánh, gánh từ thùng đấu bên trong đồng lên. Ông lý Hoè đứng đếm, mỗi gánh đổ xuống ông vạch một vạch lên tấm gỗ. Chốt đứng nhìn họ đổ đất. Đổ ở mặt đê, chỗ giữa mốc năm và mốc bảy. Đổ lên chính cái đoạn mà bên dưới là mười tám trượng rỗng. Mỗi gánh đất nặng chừng năm mươi cân. Hai trăm gánh là một vạn cân. Một vạn cân đè lên một cái vỏ. "Ông ạ." Nó nói. "Tao biết." "Ta bảo họ đổ chỗ khác được không?" "Bảo ai?" Ông Cựu chống gậy đứng lên. "Ông lý à? Ông lý được lệnh đổ chỗ ấy. Ông ấy đổ chỗ khác thì ông ấy mất chức, mà nước thì vẫn lên." Chốt xuống chân đê phía trong đồng, đi dọc, cúi nhìn. Chân đê phía trong bao giờ cũng khô. Cỏ mọc, kiến làm tổ, trẻ con chăn trâu ngồi. Ngay cả mùa nước lớn nhất, chân đê trong cũng chỉ ẩm chứ không ướt, vì nước phải đi ngang ba trượng đất mới sang được tới đấy, mà đi ngang ba trượng đất thì phải mất mấy ngày. Nó đi từ mốc năm. Cỏ khô. Đi qua chỗ giữa. Cỏ khô. Rồi tới một quãng, cách cột mốc sáu chừng mươi trượng về phía cống Ba Cửa, nó dừng lại. Cỏ ở đấy sẫm màu hơn. Nó ngồi xuống, luồn tay xuống dưới gốc cỏ. Đất mát. Không phải mát kiểu bóng râm mà mát kiểu có nước. Nó bới. Bới độ một gang thì lòng bàn tay ngập. Nước trong. Nước rịn ra chậm, từng chút, không thành dòng, chỉ đủ đọng lại thành một vũng bằng cái bát. Nó vốc lên nếm. Nhạt, hơi tanh. Nước sông. Nước sông ở chân đê phía trong đồng, vào ngày rằm tháng Bảy, khi nước ngoài kia mới ở mốc hai. Nghĩa là cái ống trong lòng đê đã thông cả hai đầu. Chốt ngồi bệt xuống đấy một lúc, tay vẫn để trong hố nước. Trên đầu nó, cách hơn ba trượng, tiếng chân phu gánh đất đi rầm rập, và tiếng ông lý đếm gánh. Rồi nó đứng lên, chạy ngược lên mặt đê. "Ông ơi." Nó nói, và giơ bàn tay còn ướt ra. "Chân đê trong có nước." Ông Trưởng Cựu nhìn bàn tay nó rất lâu. Rồi ông quay sang phía ông lý, và giọng ông đổi hẳn, không còn là giọng một ông già ngồi trông hòn gạch nữa. "Ông lý. Cho đánh trống." Ông lý đang đếm, ngẩng lên. "Bẩm cụ, mới mốc hai—" "Cho đánh trống ba hồi." Ông Cựu nói. "Tôi chịu trách nhiệm. Cụ Trưởng làng Bãi Nổi bảo ông lý làng Bãi Nổi. Ông ghi vào sổ là tôi bảo." Trống đê có ba lệnh, và cả huyện đứa trẻ lên năm cũng thuộc. Một hồi là gọi tuần đinh ra canh. Ba hồi là cả làng ra đê, đàn ông vác cuốc, đàn bà mang phên rơm, trẻ con ở nhà. Năm hồi là đê vỡ. Ông lý leo lên chõng, dỡ cái chiếu phủ mặt trống xuống, cầm dùi. Hồi thứ nhất. Tiếng trống đê không giống trống đình. Trống đình nó tròn và no. Trống đê nó khô, nó gắt, nó đi rất xa vì mặt sông bằng và không có gì cản. Đánh ở mốc sáu thì làng Đông Trạch nghe được, mà làng Đông Trạch đánh tiếp thì làng Đa Chử nghe được, cứ thế truyền dọc con đê. Hồi thứ hai. Ở dưới đồng, người đang cấy đứng thẳng lưng lên. Ở trong làng, chó sủa. Có tiếng một cái mõ gõ đâu đó phía sau lũy tre, gõ loạn, chưa vào nhịp. Hồi thứ ba. Rồi im. Trong cái im ấy, Chốt nghe thấy tiếng từ phía đê Đông Trạch vọng lại, mỏng, xa, đúng ba hồi. Người bắt đầu lên đê từ lúc mặt trời còn cách ngọn tre một con sào. Họ lên từng tốp, cuốc vác trên vai, quang gánh đung đưa. Đàn bà đội thúng phên rơm, mỗi tấm phên là một mảnh cót đan sẵn từ mùa cạn, để dành cho đúng hôm nay. Có nhà mang cả trâu lên, buộc vào gốc gạo, phòng khi phải kéo cây. Lão Vẹt, người coi cống Ba Cửa, tới cuối cùng, đi tập tễnh, và vừa tới đã sa sả. "Ba hồi trống. Ba hồi trống cái con khỉ." Lão quẳng cuốc xuống. "Nước mới mốc hai mà đã ba hồi. Cụ Trưởng nhà ta năm nay lẫn rồi hay sao?" "Lão Vẹt." Ông Cựu không quay lại. "Xuống chân đê trong, chỗ cách mốc sáu mươi trượng, bới cái hố mà xem." "Bới hố làm gì?" "Lão cứ bới đi rồi lên đây lão chửi tiếp." Lão Vẹt càu nhàu, nhưng lão vẫn xuống. Một lúc sau lão lên, và lão không chửi nữa. Lão đi thẳng tới chỗ ông Cựu, chùi tay vào vạt áo, chùi mãi. "Cụ ạ." Lão nói. "Cỏ ướt tới đâu?" "Thằng Chốt bảo mươi trượng." "Không phải mươi trượng." Lão Vẹt nói. "Tôi đi từ hố nó bới ra hai đầu. Ướt suốt. Ướt gần hai chục trượng." Ông Trưởng Cựu chống gậy, đứng lên, và lần này ông phải vịn vào vai Chốt mới đứng được. "Ông lý đâu." Ông nói. "Cho người chạy lên Đông Trạch, xin trăm bó phên. Cho người ra bến gọi hết thuyền về buộc vào gốc gạo. Và cho một đứa cưỡi ngựa lên huyện." "Bẩm cụ, lên huyện trình gì?" "Trình rằng đê Quai Vạc đoạn mốc sáu đã rò. Trình rằng cụ Trưởng làng Bãi Nổi xin bổ thân đê ngay đêm nay." Ông lý đứng đực ra. "Bẩm cụ, thầy cai đã bác rồi cơ mà." "Thì lại xin." Ông Cựu nói. "Bác lần nữa cũng được. Nhưng lúc nó vỡ, tôi muốn trong sổ có hai lần xin." Nhá nhem thì mẹ Chốt lên đê, đội một cái thúng, trong có cơm nắm với muối vừng gói lá chuối. Bà đặt thúng xuống chân cột mốc, chia cho ông Cựu một nắm, cho lão Vẹt một nắm, rồi mới đưa cho con. "Ăn đi. Đêm nay chả ai được ngủ đâu." "Mẹ về đi." Chốt nói. "Về làm gì. Nhà có cái gì mà giữ." Bà ngồi xuống, kéo vạt áo che đầu gối. "Với lại tao ở đây thì tao còn nhìn thấy mày. Về nằm nhà nghe trống thì tao đến chết." Cái Nứa lên sau, cùng bố nó và hai người anh, khiêng một bó cọc tre ngâm buộc bằng chão. Nó đặt đầu bó cọc xuống, thở, rồi tới ngồi thụp xuống cạnh Chốt. "Cọc nhà tao đấy." Nó hất hàm về phía bó tre. "Tám mươi cây. Bố tao vừa ký nợ với ông lý." "Ký nợ là sao?" "Là làng lấy cọc trước, mùa sau trả thóc. Bốn mươi đấu." Nó nhặt một cọng cỏ, bứt từng đoạn. "Mà mày biết cái buồn cười không. Cọc ấy ngâm hai năm rồi, để dành đóng bến. Giờ đem cắm xuống đê hết." "Nứa này." "Gì." "Đêm nay mày đừng xuống nước." Nó quay phắt sang. "Ơ hay cái thằng này." "Tao nói thật." "Tao biết mày nói thật thì tao mới cáu chứ." Nó vứt cọng cỏ đi. "Cả cái đê này chỉ có tao với thằng Rào là lặn được. Mà thằng Rào thì nó sợ nước đêm. Mày bảo tao ngồi trên bờ nhìn à?" "Chỗ ấy rỗng. Rỗng thì lúc nó tụt là nó hút." "Hút thì hút." Nứa đứng dậy, phủi đít quần. "Nhưng mà này. Mày cứ lo phần mày ấy. Phần tao tao biết." Mặt trời xuống. Nước ngoài kia đã qua vạch ông vạch lên cột đá lúc chiều, và nó vẫn đang lên.