Chương 3: Bà Cốt đếm bằng móng tay
Thuộc tiểu thuyết Người Đứng Trong Chỗ Vỡ
Tác giả: Trần Phong · Thể loại: Huyền Huyễn · Đăng ngày · 1558 từ · khoảng 8 phút đọc
Nhà thợ vá không phát tang.
Đấy cũng là lệ, và cũng là một trong những lệ không ai giải thích. Người nhà không đội mũ rơm, không chống gậy, không thuê kèn. Cả làng biết, cả làng sang, nhưng sang thì ngồi im ở sân, uống nước, rồi về.
Bà Sim ngồi ở đầu chõng từ sáng mồng Chín tới sáng mồng Mười, không khóc tiếng nào. Bà chỉ làm một việc: cứ chốc chốc lại lấy cái khăn ướt lau mặt cho chồng, lau xong thì vắt khăn vào chậu, vắt thật kiệt.
Cái Đài chín tuổi, ngồi ở ngưỡng cửa, ôm con vịt cồ trong lòng cho nó khỏi chạy ra sân.
"Anh Chốt."
"Gì."
"Sao người ta không khóc?"
"Lệ nó thế."
"Lệ nào?"
Chốt đang bó lại cái phên nứa để lót dưới chõng. Nó dừng tay.
"Anh không biết."
"Anh cũng không biết à?"
"Ừ."
Cái Đài im được một lúc. Rồi nó nói, giọng nhỏ hơn:
"Bố có đau không anh?"
Chốt nghĩ tới lúc bố nó ngồi xuống mặt cỏ ở dốc đê, ngồi như người vừa đi xa về. Mặt bố nó lúc ấy không nhăn một nếp nào.
"Không."
"Thật không?"
"Thật."
Ngoài sân, người ta ngồi thành hai đám.
Đám gần bờ ao là đàn ông, ngồi xổm quanh cái điếu cày. Đám dưới gốc cau là đàn bà, ngồi bệt trên chiếu, tay ai cũng cầm một việc — người tước lạt, người khâu vá, vì sang nhà có tang mà ngồi không thì mỏi.
"Suất nhà này giờ ai giữ hở bà?" Một bà tước lạt hỏi.
"Thằng cả chứ ai. Nó mười bảy rồi."
"Mười bảy thì chưa vào sổ được. Phải mười tám."
"Ối giời, thiếu một tuổi thì có làm sao."
"Có làm sao chứ. Sổ Ty nó ghi năm sinh, chả nhẽ nó không biết đếm."
Bên đám đàn ông, cái điếu rít lên một hồi dài rồi im.
"Không vào sổ thì mất ruộng công." Có người nói.
"Mất cả miễn thuế đinh nữa. Nhà bốn miệng ăn, mất ba sào với mất miễn đinh thì còn gì."
"Còn gò."
Cả đám im. Người vừa nói cúi xuống nhét thuốc vào nõ điếu, nhét lâu hơn cần thiết.
"Nói bậy nào." Một ông già gắt. "Nhà người ta đang có tang."
"Cháu nói thật chứ có nói đùa đâu ông."
"Thật thì cũng ngậm mồm lại."
Chốt nghe hết. Nó đang bó phên ở hiên, cách chỗ điếu cày chừng năm bước, và ở làng này thì bức vách nào cũng là phên nứa.
Bà Cốt Miện tới vào giữa buổi sáng mồng Mười.
Bà đi bộ từ đầu làng vào, không ai đón, không ai đưa. Bà cao chưa tới vai Chốt, lưng gập, tay chống một cái gậy trúc ngắn, và bà đi thẳng qua sân, qua đám người đang ngồi uống nước, không chào ai.
Người ta đứng cả dậy. Không phải để chào. Để tránh đường.
"Cái chõng để giữa nhà à?" Bà hỏi, không nhìn ai cụ thể.
"Vâng ạ." Bà Sim đáp.
"Kê cao lên hai gạch. Tôi không cúi được lâu."
Hai người đàn ông xúm vào kê. Bà Cốt đứng đợi, một mắt nhắm nghiền, mắt còn lại nhìn ra sân — nhìn thẳng vào chỗ nắng, không chớp.
"Thằng con đâu?"
"Cháu đây ạ."
"Lại đây. Đứng bên tay trái tôi."
Chốt bước lại. Bà Cốt đứng chỉ tới ngang ngực nó. Từ chỗ này nó ngửi thấy mùi từ người bà: mùi lá bàng khô và mùi vôi.
"Con biết tôi làm gì bây giờ không?"
"Bà đọc xương ạ."
"Đọc để làm gì?"
Chốt lưỡng lự. "Để... ghi vào sổ gò ạ."
"Ừ. Và để nhà con biết mà liệu."
Bà đặt gậy dựa vào cột. Bà vén tay áo lên tới khuỷu, để lộ hai cẳng tay gầy, gân nổi thành từng sợi, và móng tay bà dài hơn móng tay người thường chừng nửa đốt, cắt vuông, mài phẳng.
"Cởi áo ông ấy ra."
Bà Sim cởi. Cái áo nâu tuột khỏi vai, và dãy khấc trên xương đòn bên trái hiện ra dưới ánh sáng ban ngày, rõ hơn nhiều so với ánh đèn bão đêm hôm kia.
Trong nhà không ai nói. Ngoài sân, tiếng người uống nước cũng ngừng.
Bà Cốt cúi xuống. Bà không nhìn vào chỗ khấc. Bà nhắm cả con mắt còn lại, đặt đầu ngón trỏ lên hõm cổ, và bắt đầu gõ móng tay.
Cốc.
Cốc.
Mỗi cái gõ là một tiếng rất nhỏ, gọn, như gõ móng tay lên mặt bàn tre. Bà gõ đều, không nhanh không chậm, và cứ gõ một cái thì đầu ngón tay lại dịch ra ngoài vai nửa đốt.
"Một. Hai. Ba."
Bà đếm to. Đây cũng là lệ, và lệ này thì Chốt biết vì sao: người nhà phải nghe được, để sau này không cãi.
"Bảy. Tám. Chín."
Chốt đứng bên tay trái bà, tay khoanh trước ngực. Nó nhìn xuống bàn tay bố mình đang đặt trên bụng, bàn tay ấy vẫn còn đất bám trong kẽ móng, thứ đất vàng sẫm moi ra từ lõi đê. Nó nghĩ tới việc lát nữa phải lấy que tre khều chỗ đất ấy ra, vì chôn thì phải sạch tay.
"Mười lăm. Mười sáu."
Ngoài sân, con vịt cồ của cái Đài kêu một tiếng rồi im.
"Hai mươi ba. Hai mươi tư."
Chốt nghĩ tới cái sổ trong hòm, gói vải điều, trang thứ mười một có bốn hàng tiếng, trang thứ mười hai còn trắng.
"Hai mươi tám. Hai mươi chín."
Móng tay bà Cốt dừng lại.
Bà giữ đầu ngón tay ở đấy. Không gõ nữa. Cả gian nhà nghe tiếng thở của bà, hơi thở của người già, ngắn và có tiếng rít nhẹ ở cuối.
Rồi bà rút tay về, mở mắt ra, và đứng thẳng người lên hết mức cái lưng gập của bà cho phép.
"Ba mươi mốt khấc." Bà nói. "Đủ số."
Bà Sim gật đầu. Ngoài sân có tiếng người thở ra.
Chốt cũng gật. Nó đang nghĩ tới que tre và mấy cái kẽ móng tay.
"Ông nội con hai mươi hai." Bà Cốt nói tiếp, vẫn nhìn về phía chõng. "Bố con ba mươi mốt. Nhà con là nhà bền, con ạ."
"Vâng ạ."
"Bền thì tốt." Bà cầm gậy lên. "Bền thì người ta gọi nhiều."
Bà đi ra cửa. Tới ngưỡng cửa bà dừng lại, nhìn xuống cái Đài đang ôm vịt.
"Con bé này mấy tuổi?"
"Chín ạ." Bà Sim đáp.
"Con gái thì không phải lo."
Bà đi. Cái Đài ngước lên nhìn theo, rồi quay sang Chốt.
"Bà ấy bảo gì cơ?"
"Bảo mày không phải lo."
"Còn anh?"
Chốt không đáp. Nó vào nhà lấy que tre.
Chôn vào giữa trưa, lúc nắng gắt nhất. Cũng là lệ.
Gò Vá cách rìa làng hơn hai trăm bước. Cỏ trên gò cao tới bắp chân, và trong cỏ có mười bảy cái cọc gỗ cắm rải, cái nào cũng bạc thếch, không cái nào có chữ.
Ông Trưởng Cựu đi cùng. Ông chống gậy lên tới đỉnh gò, đứng thở một lúc, rồi chỉ vào một khoảng trống giữa cọc thứ mười sáu và cọc thứ mười bảy.
"Chỗ này."
Đám phu đào. Đất trên gò khô và cứng, cuốc xuống kêu chát, và đào tới ngang hông thì gặp một lớp đất khác, vàng sẫm hơn, chặt hơn.
Chốt nhận ra thứ đất ấy ngay. Nó vừa moi thứ đất y hệt ra khỏi lõi đê ba đêm trước.
"Ông ơi." Nó gọi.
"Gì?"
"Đất gò này là đất đắp à ông?"
Ông Trưởng Cựu nhìn xuống cái hố. Ông nhìn hơi lâu.
"Đào tiếp đi." Ông nói.
Lấp xong thì người ta cắm cọc. Cọc gỗ xoan, dài chừng thước rưỡi, vót nhọn một đầu. Không khắc gì lên cọc, không đặt bát hương, không đắp nấm cao.
Trên đường về, Chốt đi cuối. Nó đi được nửa đường thì quay lại nhìn.
Ông Trưởng Cựu đứng đợi nó ở chân gò, chống gậy, thở nặng.
"Ông đợi cháu à?"
"Ừ." Ông Cựu dộng đầu gậy xuống đất hai cái. "Mai kia họp phu ở đình. Mày lên."
"Cháu chưa đủ tuổi ạ."
"Tao biết mày chưa đủ tuổi. Mày cứ lên."
"Lên rồi Ty nó bác thì sao ông?"
"Thì nó bác. Nhưng làng phải thấy mày đứng ra xin đã, rồi Ty bác là chuyện của Ty." Ông nhìn lên đỉnh gò, chỗ cái cọc mới cắm còn tươi màu gỗ. "Đời ông mày cũng thế. Đời bố mày cũng thế. Chả ai vào sổ được ngay lần đầu cả."
"Rồi sau thì vào được?"
"Sau thì vào được."
"Bằng cách nào ạ?"
Ông Trưởng Cựu quay đi, bắt đầu tập tễnh xuống dốc.
"Bằng cách có việc mà không ai làm được ngoài mày."
Chốt đứng lại một lúc rồi mới đi theo. Nó đi được nửa đường thì quay lại nhìn.
Từ chỗ ấy, mười tám cái cọc trên gò không đứng lộn xộn như nó vẫn tưởng. Chúng đứng thành hàng — hàng hơi cong, cong về một phía, và cái cong ấy trùng đúng với cái cong của con đê Quai Vạc chạy phía sau lưng gò.