Chương 20: Lấp mười tám trượng

Thuộc tiểu thuyết Người Đứng Trong Chỗ Vỡ

Tác giả: · Thể loại: Huyền Huyễn · Đăng ngày · 1612 từ · khoảng 8 phút đọc

Lấp một chỗ vỡ mười tám trượng không phải việc của làng. Đấy là việc của huyện, và huyện thì phải có người ra lệnh. Sáng ngày mười sáu, người ra lệnh là thầy cai Phan Tòng. Ông ta ngồi ở điếm canh, trải giấy lên mặt chõng, và ông ta viết liền bảy cái trát. Trát thứ nhất về huyện đường, xin trưng ba trăm phu của bốn tổng. Trát thứ hai xuống bến Sỏi, trưng hết thuyền chở đá của lái buôn, cả thuyền lẫn đá, có biên nhận. Trát thứ ba sang tổng Đa Chử, xin bốn trăm cây cọc tre ngâm. Trát thứ tư, thứ năm, thứ sáu về ba làng dưới, gọi người mang rọ tre. Trát thứ bảy ông ta viết lâu hơn cả sáu cái trước cộng lại, và viết xong ông ta đọc lại hai lần rồi mới đóng dấu. Đấy là trát về Ty, xin cho bổ thân đê đoạn mốc năm sang mốc bảy sau khi nước rút, xin bổ suốt mười tám trượng, sâu tới đáy. Cái mà bảy hôm trước ông ta bác, sáng nay ông ta xin. Ông lý Hoè cầm trát, tay run. "Bẩm thầy, xin bổ đê thì phải có lệ. Ty sẽ hỏi vì cớ gì." "Ông cứ mang đi." "Bẩm, nhưng vì cớ gì ạ?" Phan Tòng gấp bút. "Vì cớ tôi đã ra xem." Ông ta nói. "Ghi thế. Chỉ ghi thế thôi." Phu tới từ giữa buổi sáng. Ba trăm người, rồi bốn trăm, rồi tới trưa thì trên mặt đê không còn chỗ đặt chân. Cách lấp là cách người ta vẫn lấp từ đời nào. Trước hết đánh đắm thuyền. Ba chiếc thuyền chở đá được kéo tới, chở đầy đá hộc, buộc chão vào hai bên, rồi đục đáy cho chìm đúng vào giữa cái miệng. Chiếc thứ nhất chìm lệch, trôi mất. Chiếc thứ hai vào đúng chỗ. Chiếc thứ ba chèn lên chiếc thứ hai. Nước qua chỗ ấy chậm lại được một phần. Rồi đóng cọc. Cọc đóng thành hai hàng dọc theo mép hai bên, và điều lạ là lần này cọc ăn. Cọc đóng vào chỗ đất mà đêm qua thằng Chốt đã vá thì ăn chặt, nện ba nhát mới xuống một tấc. "Được rồi." Người cầm búa reo. "Nó cắn búa rồi." Rồi thả rọ đá. Rọ tre đan to bằng cái nong, nhồi đá hộc, buộc chão, hai người khiêng một cái, thả xuống theo hàng cọc. Rồi phên. Rồi đất. Từ trưa tới chiều, mười tám trượng ấy hẹp lại còn mười hai. Từ chiều tới chập tối còn tám. Cái quãng cuối cùng bao giờ cũng lâu nhất, vì nước dồn cả vào đấy nên nó chảy xiết gấp mấy. Người ta phải nối cọc, nối rọ, và ba lần rọ vừa thả xuống đã bị cuốn đi. Lần thứ ba rọ bị cuốn, người ta đứng nhìn nhau. Mỗi cái rọ hai người khiêng, nhồi đá hộc, nặng non hai tạ. Thả xuống thì nó lăn một vòng rồi mất hút, và trong tiếng nước không ai nghe thấy nó chạm đáy. "Thầy ạ." Lão Vẹt lên tiếng. "Thả một cái thì nó cuốn. Buộc năm cái thành một chuỗi thì nó không cuốn được." "Chão đâu ra mà buộc?" "Tháo chão neo thuyền." Phan Tòng nhìn xuống dòng nước. "Buộc mấy cái?" "Bẩm, năm. Năm cái là hơn tấn. Nước chỗ ấy không lôi nổi tấn." "Làm." Người ta tháo chão, buộc năm cái rọ thành một chuỗi dài, hai đầu chuỗi giữ trên hai bờ, rồi thả cả chuỗi xuống một lượt, thả kiểu buông võng. Chuỗi rọ chìm, căng ra, và nó nằm lại. Cái rọ thứ sáu thả xuống đè lên chuỗi ấy thì cũng nằm lại. Từ đấy trở đi thì việc lấp chỉ còn là việc gánh. Ông Trưởng Cựu ngồi ở đầu mốc năm suốt cả ngày. Ông không xuống được nữa, chân ông sưng, nhưng ông ngồi đấy và người ta cứ chạy lên hỏi ông. Chốt nằm trên một tấm phên, dưới bóng cây gạo. Nó ngủ được chừng hai canh giờ, tỉnh dậy thì thấy mẹ ngồi cạnh, và trong lòng bà là cái áo của nó, bà đang vá lại chỗ rách ở vai. "Mấy giờ rồi mẹ?" "Xế rồi. Nằm đấy." "Đê thế nào?" "Người ta lấp gần xong." Bà cắn chỉ. "Thầy cai chỉ huy. Ông ấy đứng dưới bùn từ sáng tới giờ, chả ngồi lấy một lúc." Chốt quay đầu nhìn ra. Từ chỗ nó nằm chỉ thấy lưng người, san sát, và bên trên là bụi. "Con Nứa đâu ạ?" "Nó về từ sáng. Bố nó bắt về." Bà đặt cái áo xuống. "Này. Mày có biết nhà nó mất bao nhiêu cọc không?" "Tám mươi ạ." "Tám mươi cây hôm qua. Sáng nay làng lại lấy thêm sáu mươi." Bà nói. "Cọc ấy bố nó ngâm hai năm để đóng bến. Đóng bến thì nhà nó có cái ăn ba năm." Chốt không nói gì. "Tao nói cho mày biết thôi." Bà nhặt cái áo lên vá tiếp. "Chứ chả trách ai." Chập tối, chỗ vỡ khép lại. Không có tiếng reo. Người ta mệt quá rồi. Chỉ có một cái gì đó lặng đi: cái nền tiếng ầm suốt một ngày một đêm ấy nhỏ dần, nhỏ dần, rồi thành tiếng nước chảy bình thường, rồi thành gần như không có gì. Trong cái im ấy, người ta nghe được tiếng ếch ngoài đồng. Ông lý Hoè đi kiểm một lượt rồi lên điếm ghi sổ. Ông ta ghi: giờ vỡ, giờ hàn xong, số phu, số cọc, số rọ, số thuyền đánh đắm, và số ruộng ngập. Ba làng ngập. Bốn trăm hai mươi mẫu. Bốn trăm hai mươi mẫu lúa đang thì con gái, ngâm nước một ngày một đêm. Đấy là cái giá của việc đê giữ được. Nếu đê không giữ, cái giá ấy là hai mươi bảy làng. Đêm ấy Phan Tòng cho gọi Chốt lên điếm. Trong điếm chỉ có hai người. Lính lệ đứng ngoài sân. Trên chõng có một ngọn đèn dầu lạc, một chén nước, và cái tráp gỗ đã mở nắp. "Ngồi." Chốt ngồi xuống mép chõng. "Cậu tên gì? Tên đủ." "Bẩm, Vũ Đình Chốt ạ." "Bố cậu là Vũ Đình Rịnh." "Bẩm phải." "Ông nội cậu là Vũ Đình Kha." Phan Tòng nói. "Tôi tra sổ chiều nay. Cả hai đều có tên trong sổ hộ đê, mục phu tạp dịch. Không có mục nào khác." Ông ta rót nước, đẩy chén sang. "Cậu uống đi. Tôi hỏi vài câu." "Bẩm vâng." "Cái cậu làm đêm qua, nhà cậu gọi là gì?" "Bẩm, gọi là vá ạ." "Vá." Phan Tòng nhắc lại. "Làm được mấy lần thì thôi?" Chốt ngẩng lên. Đấy là câu mà cả làng ai cũng biết mà không ai hỏi thẳng ra, và cả bà Cốt Miện cũng chỉ nói vòng. "Bẩm, con không biết ạ." "Bố cậu làm được bao nhiêu lần?" "Bẩm, ba mươi mốt." "Rồi sao?" "Rồi bố con mất." Phan Tòng nhìn nó qua ngọn đèn. "Cậu mười bảy tuổi và cậu đã làm bốn lần." Ông ta nói. "Ba lần trong một đêm." "Bẩm phải." "Vậy nếu tôi trưng cậu đi vá cho cả bốn hạt, mỗi năm mười lần, thì ba năm nữa cậu chết." Chốt không đáp được. "Tôi nói thế để cậu biết là tôi có làm tính." Phan Tòng đóng nắp tráp lại. "Đêm qua tôi ngủ ở huyện đường, và sáng nay tôi ra đây và tôi thấy một cái miệng mười tám trượng đứng im sáu canh giờ. Con đê này ba trăm năm chưa có chỗ vỡ nào đứng im được nửa canh giờ." "Bẩm—" "Tôi chưa nói hết." Ông ta giơ tay. "Hôm mười ba tôi bác cậu. Tôi bác đúng. Với cái tôi biết hôm ấy, tôi bác lần nữa tôi vẫn bác. Cậu hiểu chỗ ấy chứ?" "Bẩm, con hiểu ạ." "Tốt. Vậy giờ tôi biết thêm rồi thì tôi làm khác." Ông ta đứng dậy. "Bốn hôm nữa cậu lên Ty. Mang cả cuốn sổ của bố cậu." Chốt ôm cuốn sổ vào ngực. "Bẩm thầy. Con hỏi thầy một câu được không ạ." Phan Tòng dừng lại ở cửa. "Hỏi." "Sổ Ty ghi ba mươi mốt cây mốc. Con đếm được hai mươi bảy. Thầy có bao giờ đi bộ hết con đê chưa ạ?" Trong điếm im một lúc lâu. Ngoài sân, một con lính lệ trở mình, tiếng giáo chạm vào cột. "Chưa." Phan Tòng nói. Rồi ông ta ra khỏi điếm, và ông ta đi khá xa mới nói thêm câu cuối, nói vọng lại, không quay đầu. "Mà cũng đừng hỏi ai câu ấy nữa." Còn lại một mình, Chốt ngồi im dưới ngọn đèn. Rồi nó mở cuốn sổ, giở qua mười một trang chữ bố nó, tới trang thứ mười hai. Trang ấy trắng. Nó vẫn trắng từ cái ngày người ta khiêng bố nó về. Ba trang sau thì nó viết rồi. Trang mười ba, mười bốn, mười lăm, chi chít vạch đứng vạch ngang với vòng tròn từ hôm xoi đê. Nó viết vào đấy mà chả nghĩ ngợi gì, vì đấy là giấy trắng ở cuối sổ. Chỉ có trang mười hai là nó chưa động vào bao giờ. Chốt rút cây bút chì giắt trong cạp quần, mài đầu bút vào mặt phản cho nhọn, rồi cúi xuống viết dòng đầu tiên lên trang giấy ấy. *Bốn mươi ba. Bảy mươi mốt. Tám mươi tám. Chín mươi sáu.*