Chương 21: Mười lần một năm
Thuộc tiểu thuyết Người Đứng Trong Chỗ Vỡ
Tác giả: Trần Phong · Thể loại: Huyền Huyễn · Đăng ngày · 1951 từ · khoảng 10 phút đọc
Ty Hộ Đê đóng ở tỉnh lỵ, đi từ Bãi Nổi mất một ngày đường. Chốt đi bộ. Người ta có cho nó ngồi nhờ xe trâu chở đá được nửa đường, còn nửa đường sau nó đi chân đất, ôm cuốn sổ bọc trong hai lần lá chuối cho khỏi ướt. Bác đánh xe trâu là người tổng dưới, không quen nó, và suốt nửa buổi bác nói một mình. "Cậu ở đâu ta?" "Cháu ở Bãi Nổi ạ." "Ối giời, Bãi Nổi." Bác quất một roi lên mông trâu, roi không mạnh, quất cho có. "Vỡ đê phải không. Cả tổng tôi nghe trống đấy. Năm hồi cơ mà." "Vâng ạ." "Ngập mấy làng?" "Ba làng ạ." "Ba làng thôi á?" Bác quay hẳn lại nhìn nó. "Cậu nói phét vừa vừa chứ. Đê Quai Vạc mà vỡ ở mốc sáu thì phải hai chục làng. Năm Đinh Mùi nhà tôi còn phải trèo lên nóc, cậu bảo ba làng?" "Cháu nói thật ạ." "Thế người ta hàn kiểu gì mà nhanh thế?" Chốt nhìn ra hai bên đường. Ruộng hai bên đang gặt sớm, người ta cắt lúa non vì sợ nước. "Đánh đắm ba thuyền đá ạ." Nó nói. "Với lại buộc rọ thành chuỗi." "Buộc rọ thành chuỗi thì tôi biết. Cái ấy đời nào chả buộc." Bác lại quất một roi. "Nhưng mà vỡ mười tám trượng thì buộc rọ ăn thua gì. Rọ thả xuống nó cuốn đi tuốt. Phải có cái gì nó giữ hai bên đã chứ." Chốt không đáp. "Ấy đấy." Bác gật gù, coi như mình vừa nói trúng. "Chắc năm nay đất nó rắn." Ty là một cái nhà năm gian tường gạch, sân lát, có hai cây muỗm già. Trong sân, dựng dọc một dãy, là bảy tấm bia đá ghi tên những lần vỡ đê lớn của tỉnh này trong hai trăm năm. Chốt đi dọc dãy bia ấy trong lúc chờ. Nó đọc được chữ, đọc chậm. Bia thứ tư ghi một cái tên nó biết. *Ất Mão, tháng Bảy, đê Quai Vạc vỡ tại mốc sáu, ngập hai mươi hai làng.* Ất Mão là năm ông nội nó ba mươi tám tuổi. Bia thứ sáu ghi một cái nữa. *Đinh Mùi, tháng Sáu, đê Quai Vạc vỡ tại mốc sáu, ngập mười chín làng.* Đinh Mùi là năm bố nó chết. Cùng một chỗ. Ba lần trong sáu mươi năm, cùng một chỗ, và trên bia không có chữ nào nói vì sao. "Vào." Có người gọi. Trong gian giữa có ba người. Thầy cai Phan Tòng ngồi bên trái. Một viên thư lại ngồi cuối, sẵn bút. Người ngồi giữa, tuổi ngoài sáu mươi, râu bạc, mặc áo lam, là đốc biện Ngô Sĩ Đoan. Chốt lạy, rồi quỳ. "Đứng lên." Đốc biện nói. "Đưa sổ đây." Nó đưa. Ông ta giở, giở chậm, dừng lại rất lâu ở trang có bốn hàng ký hiệu tiếng đất, rồi giở tiếp tới trang mười hai và dừng ở đấy. "Bốn con số này là gì?" "Bẩm, là số nhịp thở ạ." "Nhịp thở của ai?" "Bẩm, của con. Mỗi lần vá thì con đếm. Bốn mươi ba là lần thứ nhất ở Cửa Hà. Ba số sau là ba lần đêm rằm." Đốc biện gấp sổ, đặt xuống, và ông ta đặt cả bàn tay lên trên cuốn sổ ấy. "Cởi áo ra." Chốt cởi. Nó đứng giữa gian nhà gạch, cởi trần, hai tay buông xuôi. Đốc biện Ngô Sĩ Đoan đứng dậy, đi vòng qua án thư, tới trước mặt nó, và ông ta đặt đầu ngón tay trỏ lên hõm cổ nó. Rồi ông ta miết ra ngoài vai, chậm. Một. Hai. Ba. Bốn. Ông ta miết thêm một đoạn nữa, qua chỗ trơn, rồi bỏ tay xuống. "Ông Phan." Ông ta nói. "Ông đã sờ chưa?" "Bẩm, tôi mới nhìn." "Sờ đi." Phan Tòng đứng dậy, tới, và ông ta sờ. Ông ta sờ nhanh hơn, và sờ xong ông ta lùi lại một bước. "Bẩm cụ. Bốn cái." "Bốn cái, trong đó ba cái làm trong một đêm." Đốc biện quay về chỗ ngồi. "Cậu bé. Cậu biết trong tỉnh này có bao nhiêu nhà thợ vá không?" "Bẩm, con không biết ạ." "Trước có năm nhà. Nhà họ Bùi ở hạt Thanh Oai, tuyệt tự đời Cảnh Hưng. Nhà họ Trịnh ở Chương Đức, đời trước còn một người con gái, lấy chồng xa, không truyền. Nhà họ Đào ở Sơn Minh, người cuối cùng chết năm Nhâm Tuất." Ông ta nhìn lên. "Giờ còn hai. Nhà họ Lê ở Đông Trạch, và nhà cậu." "Bẩm cụ." Chốt nói. "Nhà họ Lê thì Ty có suất rồi ạ." "Có. Lê Đắc Thiều, ba mươi tư tuổi, giữ suất Đông Trạch." Đốc biện gõ ngón tay xuống án thư. "Và trong sổ có một tờ trát, hạn hết ngày hai mươi tám tháng Bảy, ghi rằng nếu làng Bãi Nổi không trình được người đủ tuổi thì Ty điều người ấy sang, ruộng công ba sào đi theo." "Bẩm vâng ạ." "Hôm nay là hai mươi. Cậu mười bảy tuổi, tức là chưa đủ tuổi vào sổ." Ông ta nói. "Cho nên tôi không ghi cậu vào mục phu được. Mục phu có lệ tuổi." Gian nhà im. "Ty không có mục nào để ghi cậu vào." Đốc biện nói tiếp. "Sổ hộ đê chỉ có ba mục: quan, lại, và phu. Ông nội cậu ghi ở mục phu. Bố cậu ghi ở mục phu." "Bẩm vâng." Cái tờ trát ấy Chốt đã nghe ông Trưởng Cựu đọc ở sân đình hôm hai mươi lăm tháng Sáu. Từ hôm ấy tới hôm nay, cả làng Bãi Nổi đếm ngược từng ngày, và không ai đếm to. Hai mươi tám ngày còn tám ngày. Trong tám ngày ấy, cái làng ba trăm năm giữ được ba sào ruộng đình chỉ còn hai đường: hoặc kiếm đâu ra một người thợ vá đủ tuổi, hoặc mất. Không có đường thứ ba, vì lệ tuổi là lệ. "Hôm nay tôi mở một mục thứ tư." Viên thư lại mở sổ hộ đê hạt Ứng Thiên ra trên án thư. Cuốn sổ ấy Chốt đã nhìn thấy một lần, hôm mười ba, ở điếm canh đê. Bây giờ nhìn gần thì thấy bìa nó bọc vải xanh, bốn góc bịt đồng, và trong ruột chia cột bằng chỉ đỏ kẻ sẵn từ lúc đóng sổ. Ba cột. Quan. Lại. Phu. Viên thư lại lấy thước, đặt dọc mép giấy, và kẻ thêm một đường chỉ đỏ nữa xuống bên phải cột thứ ba. Mực đỏ ăn vào giấy chậm. Ông ta phải chờ cho nó khô rồi mới viết được, và cả gian nhà ngồi chờ cái vệt mực ấy khô. Chốt nhìn cái đường kẻ mới. Ba trăm năm nay cuốn sổ này có ba cột, và bây giờ nó có bốn, và cột thứ tư rộng bằng đúng một ngón tay vì mép giấy chỉ còn chừng ấy chỗ. Đốc biện gật. Viên thư lại chấm bút. "Ghi: hạt Ứng Thiên, đê Quai Vạc, đặt một suất thợ vá. Suất ấy có lương. Mỗi năm hai mươi quan tiền, ba mươi đấu thóc, cấp từ kho hạt. Miễn phu dịch, miễn thuế thân, miễn cả tang phục dịch." Viên thư lại viết. "Người giữ suất: Vũ Đình Chốt, mười bảy tuổi, xã Bãi Nổi." Viết xong, ông ta đọc lại một lượt, rồi đặt bút. "Đấy là cái Ty cho cậu." Đốc biện nói. "Giờ tới cái Ty lấy." "Ghi tiếp." Đốc biện nói với viên thư lại. "Người giữ suất phải ứng trực bốn hạt trong Ty. Hạt nào có lệnh gọi thì phải đi, không được từ. Mỗi năm không quá mười lần." Bút chạy trên giấy. "Bẩm cụ." Phan Tòng nói. "Xin cụ cho hạ xuống." Đốc biện quay sang. "Hạ xuống bao nhiêu?" "Bẩm, năm lần." "Ông tính giúp tôi cái này." Đốc biện nói. "Ty có bốn hạt. Bốn con đê. Mỗi mùa nước, trung bình mỗi con vỡ một lần rưỡi. Ông cho tôi năm lần thì tôi bỏ con nào?" Phan Tòng không đáp. "Ông chọn đi. Ông là người trong Ty, ông chọn được." "Bẩm cụ, tôi không chọn được." "Tôi cũng thế." Đốc biện nói. "Cho nên tôi ghi mười." Chốt vẫn đứng đấy, áo vắt trên tay. Nó làm phép tính mà thầy cai đã làm hộ nó trong điếm canh đêm mười sáu, và lần này nó tự làm. Mười lần một năm. Bố nó ba mươi mốt cái. Ông nội nó hai mươi hai. Ba năm. "Cậu bé." Đốc biện nhìn nó. "Cậu nghe rõ cả rồi chứ?" "Bẩm rõ ạ." "Cậu có nhận không?" Đấy là chỗ mà sau này Chốt nghĩ lại nhiều lần: người ta vẫn hỏi. Người ta ghi hết vào sổ rồi, ghi cả lương lẫn điều kiện, rồi người ta mới hỏi. Và người ta hỏi thật, chứ không phải hỏi cho có, vì viên thư lại vẫn đang cầm bút chờ. "Bẩm cụ." Nó nói. "Con xin đổi." Viên thư lại ngẩng lên. Phan Tòng quay hẳn người. "Đổi cái gì?" "Bẩm, hai mươi quan tiền với ba mươi đấu thóc. Con xin đổi." "Đổi lấy gì?" "Bẩm, nhà ông Rào ở Bãi Nổi có nợ làng một trăm bốn mươi cây cọc tre, quy ra bảy mươi đấu thóc, trả vào mùa sau. Số cọc ấy đem đóng xuống đê đêm rằm hết rồi." Chốt nói. "Con xin Ty xoá cái nợ ấy." Trong gian nhà không ai nói gì một lúc. "Cậu biết hai mươi quan là bao nhiêu không?" Đốc biện hỏi. "Bẩm, con không biết ạ." "Bằng một con trâu tốt. Mỗi năm một con trâu tốt." "Bẩm, con biết bảy mươi đấu thóc là bao nhiêu ạ." Đốc biện Ngô Sĩ Đoan nhìn nó khá lâu. Rồi ông ta quay sang viên thư lại. "Ghi cả hai. Lương cứ cấp. Nợ cứ xoá. Xoá vào khoản tổn thất hộ đê hạt Ứng Thiên đêm rằm tháng Bảy, có chữ ký của tôi." "Bẩm cụ—" "Ghi đi." Ông ta nói. "Ty vừa lấy của thằng bé này ba năm. Bảy mươi đấu thóc thì Ty còn trả nổi." Ra tới sân, trời đã xế. Phan Tòng tiễn nó ra tận cổng, đi bên cạnh, tay chắp sau lưng. "Bẩm thầy." Chốt nói. "Con hỏi thầy một câu nữa được không ạ." "Cậu lại hỏi về mấy cây mốc." "Bẩm phải." Phan Tòng dừng lại ở chân dãy bia đá. "Sổ hộ đê hạt Ứng Thiên hiện nay là bản sao." Ông ta nói. "Sao lại năm Cảnh Hưng thứ mười. Bản gốc lập từ trước nữa, và bản gốc không ở đây." "Bẩm, ở đâu ạ?" "Ở kinh." "Thầy xin xem được không ạ?" "Xin thì xin được." Phan Tòng nói. "Nhưng cậu nghe tôi. Cái năm Cảnh Hưng thứ mười ấy, cả tỉnh này chép lại sổ một lượt. Người ta không chép lại sổ khi sổ còn tốt." Ông ta chỉ vào tấm bia thứ tư trong sân. "Cậu đọc lại cái bia này cho tôi." Chốt đọc. *Ất Mão, tháng Bảy, đê Quai Vạc vỡ tại mốc sáu, ngập hai mươi hai làng.* "Ất Mão là năm nào?" "Bẩm, con không biết ạ." "Cảnh Hưng thứ tám." Phan Tòng nói. "Hai năm trước khi người ta chép lại sổ." Ông ta chắp tay sau lưng, đi vào, và Chốt còn đứng ở cổng Ty một lúc lâu nữa, ôm cuốn sổ bọc hai lần lá chuối, nhìn dãy bảy tấm bia đá đứng dọc trong sân.