Chương 22: Bảy mươi đấu thóc
Thuộc tiểu thuyết Người Đứng Trong Chỗ Vỡ
Tác giả: Trần Phong · Thể loại: Huyền Huyễn · Đăng ngày · 1575 từ · khoảng 8 phút đọc
Trát của Ty về tới Bãi Nổi ngày hai mươi ba, trước cả người mang tiền lương. Ông lý Hoè đọc ở sân đình, đọc to, có mõ gọi làng ra nghe. Trát có hai khoản. Khoản thứ nhất: hạt Ứng Thiên đặt một suất thợ vá, người giữ suất là Vũ Đình Chốt, xã Bãi Nổi. Khoản thứ hai: xoá nợ cọc tre của Nguyễn Văn Rào, xã Bãi Nổi, một trăm bốn mươi cây, quy bảy mươi đấu thóc, tính vào khoản tổn thất hộ đê đêm rằm. Đọc xong, sân đình ồn lên một lúc. Ông Rào đứng ở hàng sau, và khi ông lý đọc tới tên mình thì ông cởi nón cầm tay. Đọc xong ông vẫn đứng thế, cầm nón, tới khi có người vỗ vai ông mấy cái ông mới đội lại. Rồi ông tìm Chốt. Ông tìm thấy nó ở gốc cây gạo ngoài cổng đình, và ông không nói gì trước. Ông chỉ nắm lấy hai vai nó, nắm chặt, và ông cứ đứng thế. "Bác ơi." "Ừ." "Bác buông cháu ra." "Ừ." Nhưng ông không buông ngay. "Thằng bé này." "Dạ." "Bảy mươi đấu thóc." Ông nói. "Bảy mươi đấu là nhà bác không phải bán con Nứa đi ở." Chốt ngẩng phắt lên. "Bác định bán chị ấy đi ở?" Ông Rào buông vai nó ra, đội lại nón, sửa vành nón. "Bác nói cho vuông thế thôi." Ông nói. "Nợ bảy mươi đấu, mùa sau nhà bác thu được năm chục là cùng. Thiếu hai chục thì phải có cái gì bù. Nhà bác chả có cái gì ngoài người." Rồi ông đi. Chốt đứng dưới gốc gạo, và mãi tới lúc ấy nó mới hiểu rằng cái nó đổi ở Ty hôm hai mươi không phải là bảy mươi đấu thóc. Cái suất ấy đổi làng đối với nó trong vòng một buổi. Trước rằm, Chốt là thằng con nhà thợ vá, tức là nhà có người chết trẻ ba đời, tức là nhà mà người ta thương nhưng không gả con gái vào. Đi qua ngõ ai thì người ấy chào, chào kiểu chào một đứa trẻ. Sau khi đọc trát, có ba người tới hỏi nó về đê. Người thứ nhất là ông Trạc, chủ mấy sào ruộng trũng phía trong mốc bốn, hỏi rằng đoạn ấy có việc gì không. Người thứ hai là một bà ở xóm Chùa, hỏi xem sang tháng có nên cấy lại chỗ ruộng vừa ngập hay để hoang. Người thứ ba là thằng Rào — thằng Rào con ông Xảm, không phải ông Rào bố cái Nứa, hai cái tên trùng nhau mà cả làng vẫn phân biệt được bằng cách nói kèm tên bố. Nó bằng tuổi Chốt, biết lặn, và nó hỏi một câu khác hẳn hai người kia. "Mày dạy tao xoi được không?" "Xoi thì ai chả xoi được." "Không." Thằng Rào lắc. "Tao xoi rồi. Tao chọc cây sắt xuống, nghe thấy có tiếng, mà tao chả biết tiếng nào là tiếng nào." Chốt nghĩ một lúc. "Được." Nó nói. "Nhưng phải học bốn hàng." "Bốn hàng gì?" "Bốn hàng tiếng. Thụp. Bộp đuôi ngắn. Bộp đuôi dài." Nó dừng lại. "Với một hàng nữa." "Hàng nữa là gì?" "Là hàng mà mày không cần học." Cái Nứa không ra đình nghe đọc trát. Chiều hôm ấy Chốt tìm nó ở bến Sỏi. Nó ngồi trên một cây cọc tre đóng dở, chân thõng xuống nước, tay chẻ lạt. "Nứa." "Ừ." "Mày nghe trát chưa?" "Nghe rồi. Cả làng nói." Nó chẻ tiếp. Con dao nhỏ đi rất đều, mỗi nhát ra một sợi lạt mỏng bằng nhau. "Bảy mươi đấu." "Mày không mừng à?" "Mừng chứ." Nó nói, và không ngẩng lên. "Bố tao mừng. Mẹ tao mừng. Hai thằng anh tao mừng. Cả nhà tao mừng." "Còn mày?" Nứa đặt con dao xuống. "Chốt này. Tao hỏi mày một câu, mày trả lời tao thật." "Ừ." "Lúc mày đứng ở Ty, mày có nói tên tao không?" Chốt im. "Có hay không?" "Không." "Ừ." Nó gật. "Tao đoán thế." "Nứa, tao xin xoá nợ cho nhà mày—" "Cho nhà tao." Nó ngắt. "Đúng rồi. Cho nhà tao. Bố tao, mẹ tao, hai thằng anh tao. Cái nhà tao. Tao là con trong nhà tao thì tao được ăn ké." "Tao không hiểu mày." Nứa đứng dậy trên cây cọc, và nó cao hơn nó nửa cái đầu khi đứng thế. "Đêm mười sáu tao ở dưới nước với mày bao lâu?" "Từ nhịp năm mươi tư tới chín mươi sáu." "Bốn mươi hai nhịp." Nó nói. "Tao giữ tay mày trong dòng bốn mươi hai nhịp. Mày buông ra thì hỏng. Mày biết cái ấy chứ?" "Tao biết." "Thế trong cái trát ông lý đọc ở đình hôm nay có chữ nào là tên tao không?" Chốt không đáp. "Có mỗi tên bố tao." Nứa nói. "Nguyễn Văn Rào, xã Bãi Nổi, một trăm bốn mươi cây cọc. Tên tao thì Ty chả biết là có." Nó nhảy xuống khỏi cây cọc, lội lên bờ. "Tao không giận mày vì mày xin hộ nhà tao. Tao ngu đến thế đâu." Nó nhặt bó lạt lên. "Tao giận vì mày đem cái của mày ra đổi, mà mày đổi lấy một cái mà đáng lẽ tao tự lấy được." "Tự lấy bằng cách nào?" "Bằng cách có người ghi tao vào một cái sổ nào đó." Nó nói. "Bất cứ cái sổ nào." Chốt về nhà, và nó ngồi ở ngưỡng cửa tới lúc đom đóm ra. Nó nghĩ về cái sổ. Trong hạt này người ta sống trong sổ. Sổ đinh ghi ai là người, sổ điền ghi ai có ruộng, sổ hộ đê ghi ai phải đi phu. Không có tên trong sổ nào thì mùa sưu người ta không gọi, mà mùa chia phần người ta cũng không gọi. Bà Cốt Miện không có tên trong sổ nào cả. Người ta bảo bà không phải người làng, bà tới đây từ đời nào không rõ. Bà sống được là vì cả huyện cần bà đọc xương. Cái Nứa có tên. Tên nó ghi trong sổ đinh, ở mục con gái, dưới tên bố và hai anh, ghi ba chữ rồi thôi. Còn cái nó làm đêm mười sáu thì không có sổ nào nhận. Sáng hôm sau Chốt lên nhà bà Cốt Miện. Nhà bà ở rìa làng, sau lũy tre, một gian lợp lá, trước cửa phơi mấy cái rổ đựng xương gà xương lợn đã luộc trắng. Bà đang ngồi vót một cái que. "Bà ạ." "Vào." Bà không ngẩng lên. "Cởi áo." Nó cởi. Bà đặt cái que xuống, chùi tay vào vạt, rồi đưa móng tay lên xương đòn nó. Móng tay bà đen và dài. Bà gõ chứ không miết. Gõ vào cái thứ nhất, nghe. Gõ cái thứ hai, nghe. Cái thứ ba. Cái thứ tư. Rồi bà gõ vào chỗ xương trống phía ngoài, gõ ba cái, và bà ngồi im rất lâu. "Bà ơi." "Ừ." "Bà đếm được bao nhiêu?" "Bốn." Bà nói. "Mày cũng đếm được bốn. Hỏi làm gì." "Con không hỏi cái ấy." Bà Cốt Miện ngẩng lên. Mắt bà đục một bên. "Tao biết mày hỏi cái gì." Bà nói. "Mày hỏi cái số của mày. Mày hỏi mày còn mấy cái nữa." "Vâng ạ." "Mặc áo vào." "Bà ơi—" "Mặc áo vào rồi ngồi xuống." Nó mặc áo, ngồi xuống nền đất. "Năm bố mày hai mươi tuổi, nó cũng ngồi đúng chỗ mày đang ngồi." Bà nhặt cái que lên vót tiếp. "Nó cũng hỏi tao đúng cái câu ấy. Tao không nói." "Sao bà không nói?" "Mày nghĩ đi." Bà nói. "Giả sử tao nói với nó là ba mươi mốt. Rồi nó đi vá. Cái thứ hai mươi chín, cái thứ ba mươi, nó vẫn đi. Tới cái thứ ba mươi mốt thì nó không đi nữa." "Thì nó sống." "Thì đêm ấy có một cái đê vỡ mà không ai vá." Bà nói. "Rồi cái thứ ba mươi hai, ba mươi ba, ba mươi tư. Nó ngồi ở nhà đếm. Cả cái huyện này chìm dần, mà nó thì sống, và nó ngồi đấy đếm." Bà vót một nhát dài. Sợi tre cong ra rồi đứt. "Thợ vá mà biết cân thì hai mươi bảy làng chìm." Bà nói. "Đấy là câu người ta dạy tao. Tao chả nghĩ ra được đâu." Chốt ngồi im. "Bà ạ." "Gì." "Bà có biết vì sao nhà con bị cấm cải táng không?" Bà Cốt Miện dừng dao. Bà không quay lại. Bà cứ ngồi thế, lưng quay ra cửa, cái que vót dở cầm ngang trong tay, và bà ngồi lâu tới mức Chốt tưởng bà không nghe thấy. "Ai bảo mày là cấm?" "Ông Trưởng Cựu nói lửng nửa câu hôm giỗ bố con." "Ừ." Bà đặt con dao xuống mặt đất. "Thế thì ông ấy nói được đến đấy thôi." "Bà nói nốt cho con được không ạ?" "Không." Bà đứng dậy, cầm cái rổ xương ngoài sân đem vào, và bà đi ngang qua chỗ nó ngồi mà không nhìn nó. "Mười hai tháng Tám là giỗ ông nội mày." Bà nói. "Hôm ấy mày ra gò Vá. Ra một mình, đừng đi với mẹ mày. Rồi đếm xem trên ấy có bao nhiêu cái mả."