Chương 4: Xin suất giữa đình làng

Thuộc tiểu thuyết Người Đứng Trong Chỗ Vỡ

Tác giả: · Thể loại: Huyền Huyễn · Đăng ngày · 1517 từ · khoảng 8 phút đọc

Họp phu vào chiều mười ba tháng Sáu, ở đình.

Đình Bãi Nổi nhỏ, ba gian, mái ngói đã thay rạ ở gian bên trái từ trận bão năm kia mà chưa lợp lại được. Giữa đình kê một cái phản gỗ, và trên phản là quyển sổ làng bọc bìa da trâu, cái nghiên mực, với một chồng thẻ tre ghi tên suất phu.

Phu tới đủ. Bốn mươi hai suất, thiếu ba, và ba suất thiếu ấy đều có người nhà tới xin khất.

Ông Trưởng Cựu ngồi giữa phản, mở sổ, đọc từng suất một. Ông đọc chậm, đọc to, và cứ đọc xong một cái tên thì người mang tên ấy phải "dạ" một tiếng.

Đọc hết bốn mươi hai suất mất non một khắc.

Chốt ngồi hàng thứ ba, chỗ dành cho phu ít tuổi, lưng dựa vào cột đình. Cột đình gỗ lim, to bằng vòng tay người lớn, và ở độ cao ngang vai có một vệt nhẵn bóng chạy vòng quanh cột — vệt của ba trăm năm lưng người dựa vào.

Trong đình mùi mồ hôi trộn mùi mực tàu. Nắng chiều lọt qua cửa võng, rọi một vệt chéo lên mặt phản, và trong vệt sáng ấy bụi bay chậm.

Nó đã ngồi ở đúng chỗ này ba mùa. Ba mùa trước nó ngồi để nghe tên bố nó được đọc lên, và nó chỉ phải làm một việc là ngồi im.

"Xong suất phu." Ông gấp trang lại, lật sang trang sau. "Giờ tới suất vá."

Trong đình có tiếng người trở mình trên chiếu.

"Suất vá Bãi Nổi, sổ ghi tên Vũ Đình Nhợ, bốn mươi mốt tuổi, nhận suất năm mười tám." Ông Cựu đọc. "Ngày mồng Tám tháng Sáu năm nay, vá cống Ba Cửa, khấc thứ ba mươi mốt, không về."

Ông ngừng.

Quyển sổ làng dày chừng hai đốt ngón tay, bìa da trâu đã sờn hết bốn góc, và giữa các trang có kẹp mấy sợi lạt để đánh dấu. Trang suất vá là trang mỏng nhất trong sổ: cả trang chỉ có bốn dòng, mỗi dòng một đời người.

Ông Cựu chấm bút vào nghiên, gạt bớt mực vào thành nghiên, rồi mới viết một dòng ngắn xuống dưới.

"Suất bỏ trống."

"Ông ơi." Chốt đứng dậy.

Nó ngồi ở hàng thứ ba, phía sau, chỗ dành cho phu ít tuổi. Từ chỗ ấy đứng lên thì cả đình quay lại nhìn.

"Cháu xin nhận suất."

Không ai nói gì trong khoảng ba nhịp thở. Rồi tiếng bàn tán nổi lên cùng một lúc, không to, nhưng nhiều.

"Mày mấy tuổi?" Ông Cựu hỏi, dù ông biết.

"Cháu mười bảy ạ."

"Sổ Ty ghi phải đủ mười tám."

"Cháu biết ạ."

"Biết mà vẫn xin?"

"Vâng."

Ông Cựu đặt bút xuống. Ông nhìn quanh gian đình một lượt, chậm, từ hàng đầu ra hàng cuối.

"Ai có ý gì thì nói. Nói ở đây, đừng nói ngoài cổng đình."

Một người đàn ông ngoài bốn mươi ngồi hàng thứ hai đứng lên. Ông Trạc, nhà có bốn mẫu, đóng nhiều suất phu nhất làng.

"Tôi không có ý gì với thằng Chốt. Nó là con nhà nghề, nó lên là phải. Nhưng tôi hỏi thật một câu."

"Hỏi đi."

"Nó vá được chưa?"

Cả đình im.

Chốt đứng nguyên. Nó biết ông Trạc không nói sai. Suất vá đúng là cái việc chứ không phải cái ghế, và cái việc ấy nó chưa làm lần nào — nó mới chỉ giữ dây, đếm nhịp thở, và xách đèn.

Ngoài sân đình, một con chó nằm dưới gốc muỗm gãi tai bằng chân sau, gãi ba nhịp rồi thôi.

"Ý tôi là thế này." Ông Trạc nói tiếp, giọng không gay gắt. "Suất vá không phải cái ghế. Nó là cái việc. Ghi tên vào sổ thì dễ, nhưng đêm nước lớn mà chỗ vỡ ăn tới mạch thì ai xuống? Ghi tên thằng bé rồi đêm ấy nó xuống không nổi thì hai mươi bảy làng gánh."

"Bố nó lần đầu vá năm bao nhiêu tuổi?" Ai đó hỏi.

"Mười tám." Ông Cựu đáp.

"Đấy. Mười tám."

"Ông tôi thì mười sáu." Chốt nói.

Đình im hẳn.

Mấy chục cái đầu quay lại cùng một lượt. Ở hàng đầu, một ông già gỡ cái điếu ra khỏi miệng.

Ông Trưởng Cựu ngẩng lên. Ông nhìn Chốt, và lần này ông nhìn lâu hơn.

"Mày nghe ai nói thế?"

"Cháu đọc trong sổ nhà cháu ạ. Sổ tay của bố cháu, trang đầu có ghi ngày ông cháu nhận suất, với ngày ông cháu vá lần thứ nhất. Ông cháu mười sáu."

"Sổ nhà thì Ty nó không tính."

"Cháu biết ạ. Cháu chỉ nói là đã có người mười sáu."

Ông Trạc ngồi xuống. Ông không cãi thêm, nhưng ông cũng không gật.

"Còn ai nữa không?" Ông Cựu hỏi.

Một bà ngồi ngoài hiên nói vọng vào. "Ối giời, các ông cứ làm như nhà nó xin xỏ cái gì. Suất ấy nhà nó chết ba đời rồi chứ ai vào đấy mà tranh."

"Bà nói thế cũng chả phải." Ông Trạc quay ra. "Cái tôi lo là lo cho cả làng chứ có lo cho nhà tôi đâu."

"Thì ông lo, tôi có bảo ông không lo đâu. Nhưng lo thì lo cho phải. Ba sào ruộng công với miễn thuế đinh, ông lấy cái đó về nhà ông ông có dám xuống cống không?"

"Này này, bà nói vừa vừa thôi."

"Rõ khổ, tôi nói vừa rồi đấy chứ."

Ông Cựu gõ đầu gậy xuống mặt phản một cái. Cả đình im.

"Tôi ghi thế này." Ông nói. "Sổ làng ghi: suất vá Bãi Nổi, Vũ Đình Chốt, mười bảy tuổi, làng cử. Còn vào sổ Ty hay không thì là việc của Ty. Ai không đồng ý thì đứng lên."

Không ai đứng lên. Ông Trạc ngồi yên, hai tay đặt trên đầu gối.

Ông Cựu chấm bút, viết.

Dòng ấy ngắn, chỉ mười mấy chữ, nhưng ông viết mất khá lâu. Ông viết chậm, và Chốt đứng đấy nhìn ngòi bút đi trên giấy bản, thấy mực thấm ra hai bên nét, vì giấy sổ làng là giấy rẻ.

"Ngồi xuống đi." Ông Cựu nói mà không ngẩng lên.

Chốt ngồi.

Họp xong thì trời đã nhá nhem. Phu về gần hết, chỉ còn mấy người ở lại xếp chiếu, và Chốt ở lại vì ông Cựu bảo ở lại.

"Cầm cái này." Ông đưa cho nó một thẻ tre. Trên thẻ khắc ba chữ nôm và một con số.

"Thẻ suất ạ?"

Chốt cầm lấy. Thẻ tre dài bằng gang tay, mặt tre vàng ươm ở chỗ mới khắc và sẫm lại ở phần cán, chỗ tay người ta cầm. Nó lật mặt sau. Mặt sau nhẵn, chưa khắc gì.

"Thẻ suất làng. Không phải thẻ Ty." Ông Cựu ngồi xuống mép phản, duỗi cái chân trái ra. "Mày hiểu chỗ khác nhau chứ?"

"Thẻ làng thì làng công nhận. Thẻ Ty thì mới được ruộng công với miễn đinh."

"Ừ."

"Vậy cháu cầm thẻ này để làm gì ạ?"

"Để đêm nào có trống thì mày có quyền xuống." Ông Cựu đứng lên. "Không có thẻ mà xuống, người ta lôi mày lên."

Ông Cựu đi ra tới cửa đình thì dừng lại.

"Thằng Chốt."

"Dạ."

"U mày có biết mày lên xin không?"

"Cháu chưa nói."

"Về nói đi."

"Cháu nói rồi u cháu cũng không cản được. Suất bỏ trống thì mất ruộng công, mà mất ruộng công thì..."

"Tao không hỏi u mày cản hay không cản." Ông Cựu quay hẳn lại. "Tao bảo mày về nói. Cái nhà ấy còn ba người, và cái thẻ trong tay mày là của cả ba người chứ không phải của mình mày."

Chốt nắm cái thẻ tre chặt hơn.

"Vâng ạ."

"Còn một chuyện nữa." Ông Cựu hạ giọng, dù trong đình chỉ còn hai người và mấy cái chiếu. "Từ giờ tới rằm, mày đừng nói với ai là mày đã xuống cống hôm mồng Tám."

"Cháu có xuống đâu ông. Cháu chỉ giữ dây."

"Giữ dây cũng là xuống." Ông nhìn ra sân. "Thầy cai Phan Tòng mà hỏi thì mày bảo mày ở trên bờ. Nhớ chưa?"

"Vì sao ạ?"

"Vì tao bảo thế."

Chốt định hỏi nữa. Nhưng ông Cựu đã bước xuống bậc đình, và cái chân trái của ông kéo lê trên nền gạch một tiếng dài.

Ngoài cổng đình có tiếng chân người chạy. Một thằng bé chừng mười hai tuổi lao vào, thở dốc, tay chống lên đầu gối.

"Ông Cựu ơi. Trên điếm cống báo xuống."

"Báo gì?"

"Thầy cai Phan Tòng xuống đo đê. Rằm này."

Ông Trưởng Cựu đứng im một lúc. Rồi ông cúi xuống, gấp quyển sổ làng lại, buộc dây, và kẹp nó vào nách.

"Rằm là kia rồi." Ông nói. "Thằng Chốt, mai mày đi với tao một vòng từ mốc năm tới mốc bảy. Đi từ sáng."

"Vâng."

"Mang cây xoi của bố mày theo."