Chương 5: Cây thước gỗ của thầy cai
Thuộc tiểu thuyết Người Đứng Trong Chỗ Vỡ
Tác giả: Trần Phong · Thể loại: Huyền Huyễn · Đăng ngày · 1680 từ · khoảng 8 phút đọc
Rằm tháng Sáu, thầy cai Phan Tòng xuống đoạn Quai Vạc lúc mặt trời lên được một con sào.
Hắn đi bộ. Đấy là điều đầu tiên Chốt để ý. Từ nha Ty xuống tới cống Ba Cửa là nửa ngày đường, và người có chức thì thường đi võng hoặc đi ngựa, nhưng Phan Tòng đi bộ, một mình, đi trước hai người lính lệ chừng mười bước.
Điều thứ hai Chốt để ý là gấu áo.
Phan Tòng mặc áo the đen. Mặt đê sau ba ngày mưa nhỏ thì nhão một lớp mỏng trên mặt, đủ để bám lên dép và bắn lên ống quần bất cứ ai đi qua. Hai người lính lệ theo sau, ống quần lấm tới đầu gối.
Gấu áo the của Phan Tòng sạch.
"Bậc ba." Ông Trưởng Cựu nói khẽ, không quay đầu. "Khí đủ nuôi thân thì bùn không bám. Đừng nhìn nữa."
Chốt cụp mắt xuống.
Phan Tòng dừng ở cột mốc thứ năm. Hắn cầm trong tay một cây thước gỗ dài chừng thước rưỡi, sơn đen, khắc vạch trắng, và hắn chống đầu thước xuống mặt đê như người ta chống gậy.
"Trưởng cựu Bãi Nổi."
"Có tôi."
"Từ mốc năm tới mốc bảy, Ty giao hai mươi tư trượng kè phên. Làm được bao nhiêu rồi?"
"Chín trượng ạ."
Phan Tòng gõ đầu thước xuống đất một cái.
"Hôm nay là rằm."
"Vâng ạ."
"Hạn là cuối tháng."
"Vâng ạ."
Hắn không nói thêm câu nào về chỗ mười lăm trượng còn thiếu. Hắn quay người, đi dọc mặt đê về phía cống, và cứ mười bước lại đặt cây thước nằm ngang xuống mặt đê, ngắm dọc theo cạnh thước, rồi đi tiếp.
Đo cao mặt đê. Chốt biết cách đo ấy — bố nó có ghi trong sổ, ở trang thứ tám.
Tới đoạn giữa mốc sáu và mốc bảy thì Phan Tòng dừng lâu hơn. Hắn đặt thước xuống, ngắm, rồi đứng lên, rồi lại đặt xuống chỗ khác cách đó ba bước.
"Chỗ này lún bốn phân."
"Vâng, đoạn ấy năm nào cũng lún ạ." Ông Cựu đáp.
"Năm ngoái lún mấy phân?"
"Hai ạ."
"Năm nay bốn." Phan Tòng dựng thước lên. "Đắp bù."
"Vâng ạ."
"Đắp bù không tính vào hai mươi tư trượng."
Ông Trưởng Cựu im một nhịp. Chốt đứng sau lưng ông, và từ chỗ ấy nó thấy mấy ngón tay ông siết chặt lại trên đầu gậy rồi lại giãn ra.
"Thưa thầy cai, làng tôi bốn mươi hai suất, hiện có ba suất khất."
"Ba suất khất thì bảo họ đừng khất nữa."
"Nhà thì đang gặt chiêm muộn ạ."
"Gặt xong thì lên đê."
"Vâng ạ."
Tới cống Ba Cửa thì Phan Tòng đi xuống chân cống phía trong đồng, không cởi dép.
Hắn lội. Nước tới bắp chân, và hai ống quần hắn ướt lên tới gối, nhưng khi hắn bước lên bờ thì nước tuột khỏi vải, chảy thành giọt xuống đất, không để lại vệt.
Hắn đứng nhìn chỗ mảng nước trong.
"Vá ngày nào?"
"Mồng Tám ạ."
"Ai vá?"
"Vũ Đình Nhợ."
"Nhợ đâu?"
"Đã chôn ở gò Vá mồng Mười ạ."
Phan Tòng quay lại. Hắn nhìn ông Trưởng Cựu, rồi mắt hắn lướt qua đám phu đứng phía sau, và dừng ở Chốt.
"Thằng bé này con nhà Nhợ?"
"Vâng ạ."
"Mấy tuổi?"
"Cháu mười bảy ạ." Chốt đáp.
"Ta hỏi trưởng cựu."
"Mười bảy ạ." Ông Cựu nói.
Phan Tòng rút trong bọc ra một quyển sổ nhỏ, không phải sổ hộ đê mà là sổ tay công vụ, giở tới trang có kẹp lạt.
"Suất vá Bãi Nổi. Sổ Ty ghi Vũ Đình Nhợ. Nhợ chết thì suất bỏ trống, làng phải trình người trong hạn một tháng, người trình phải đủ mười tám."
"Làng tôi đã cử thằng Chốt, có ghi trong sổ làng ạ."
"Sổ làng."
"Vâng ạ."
Phan Tòng gấp sổ tay lại.
"Sổ làng của các ông thì các ông giữ. Ty ghi theo sổ Ty." Hắn nói, giọng đều, không nặng hơn lúc nói về bốn phân lún. "Thằng bé mười bảy. Không vào sổ được."
"Thưa thầy cai, ông nội nó nhận suất năm mười sáu, có ghi..."
"Ghi ở đâu?"
Ông Trưởng Cựu ngừng lại.
"Sổ nhà nó ạ."
"Vậy là hai quyển sổ tôi không tính, ông đem ra cãi với tôi." Phan Tòng tra sổ tay vào bọc. "Hạn còn hai mươi ba ngày. Trong hai mươi ba ngày, làng trình được người đủ tuổi thì tôi ghi. Không trình được thì Ty điều thợ vá từ làng khác sang."
Trong đám phu có tiếng xôn xao.
"Điều sang thì làng tôi phải nuôi ạ?" Ông Cựu hỏi.
"Nuôi ăn ở. Và ba sào ruộng công hạng nhất chuyển sang cho người ấy."
"Chuyển đi đâu ạ?"
"Chuyển theo người. Người ở đâu thì ruộng ở đấy."
Ông Trưởng Cựu chống gậy đứng thẳng lên. Cái chân trái của ông run một nhịp rồi đứng yên.
"Thưa thầy cai. Ba sào ấy là ruộng đình, ba trăm năm nay chưa ra khỏi làng lần nào."
"Ba trăm năm nay Bãi Nổi cũng chưa để trống suất vá lần nào." Phan Tòng cầm thước lên. "Hai mươi ba ngày."
Hắn đi. Hai người lính lệ đi sau, ống quần lấm bùn tới gối.
Chốt đứng lại trên bậc đất, tay cầm cái thẻ tre. Nó nhìn xuống mảng nước trong dưới chân cống — chỗ bố nó vá, chỗ nước bây giờ trong tới mức nhìn thấy sạn dưới đáy.
Nó nghĩ tới ba sào ruộng đình, tới bốn miệng ăn nay còn ba, và tới hai mươi ba ngày.
Rồi nó ngồi xuống, tháo dép, và lội xuống nước.
"Mày làm gì đấy?" Ông Cựu quát.
"Cháu xem lại chỗ vá của bố cháu."
"Lên!"
"Ông cho cháu xem một lúc."
Chốt lội tới giữa mảng nước trong. Nó hít một hơi, cúi xuống, và thọc cả hai tay xuống đáy — một tay ấn vào chân tường gạch, một tay xoè ra trong nước.
Không có gì xảy ra cả.
Nó ngồi xổm ở đấy khá lâu, hai cánh tay ngập tới khuỷu, mặt nước phẳng lì trước mũi, cho tới khi ông Trưởng Cựu lội xuống lôi nó lên.
Về tới nhà thì quá trưa.
Bà Sim đang ngồi ở hiên đan cót. Cái nan tre chạy qua chạy lại dưới tay bà, đều, và mỗi lần đổi nan thì bà lại giấu bàn tay phải vào lòng một nhịp — cái ngón út cụt nửa đốt, bà quen giấu từ hồi còn con gái.
Cái Đài ngồi cạnh, giữ đầu tấm cót cho khỏi xô.
"Sao ướt hết thế con?"
"Con lội xuống cống."
"Lội xuống làm gì?"
"Con xem chỗ bố vá."
Bà Sim đan thêm ba nan nữa rồi mới dừng tay.
"Thầy cai xuống rồi hả?"
"Vâng."
"Nói sao?"
Chốt ngồi xuống bậc hiên, vắt ống quần. Nước chảy xuống nền đất khô, thấm ngay.
"Thầy cai bảo con chưa đủ mười tám thì không vào sổ được. Cho làng hai mươi ba ngày trình người khác."
"Rồi ruộng?"
"Chuyển theo người. Người ở làng nào thì ruộng về làng ấy."
Cái nan tre trong tay bà Sim gãy đánh tách một tiếng. Bà rút nó ra, quăng xuống sân, với cái nan khác.
"Ối giời đất ơi." Bà nói, giọng không to hơn lúc nãy chút nào. "Ba sào ruộng đình."
"Vâng."
"Ba sào ấy hồi bà nội mày còn sống đã ăn rồi. Ăn tới đời mày là bốn đời."
"Con biết ạ."
"Biết thì mày định làm sao?"
Chốt không đáp ngay. Nó nhìn ra sân, chỗ hai con vịt của cái Đài đang rúc mỏ vào cái vũng nước mưa còn sót từ hôm kia.
"U ạ." Nó nói. "Nhà mình còn gì bán được không?"
"Bán để làm gì?"
"Để nộp thuế đinh. Nếu mất miễn đinh thì năm nay nhà mình phải nộp một suất."
"Một suất đinh là bao nhiêu thóc?"
"Sáu đấu."
Bà Sim ngừng đan hẳn. Bà đặt tấm cót xuống, chống hai tay lên đầu gối, và ngồi thế một lúc.
"Sáu đấu thì nhà này chả có." Bà nói. "Rõ khổ. Bố mày nằm xuống chưa được một tuần."
"U đừng lo. Con còn hai mươi ba ngày."
"Hai mươi ba ngày thì mày làm gì được mà bảo u đừng lo?"
"Con chưa biết ạ."
Bà Sim nhìn con. Bà nhìn khá lâu, rồi bà cúi xuống nhặt cái nan tre gãy lúc nãy, vuốt cho thẳng, và cắm nó vào mép tấm cót ở chỗ khuất, chỗ người mua không soi tới.
"Vào thay quần áo đi." Bà nói. "Ướt thế rồi cảm bây giờ."
Cái Đài bò lại gần anh nó, ghé sát tai.
"Anh Chốt."
"Gì."
"Ruộng đình ở chỗ nào hở anh?"
"Ngoài bãi, chỗ cây gạo."
"Thế nếu người ta lấy đi thì người ta khuân cả cây gạo à?"
Chốt định bảo nó im. Nhưng nó nghĩ lại, và nó ngồi xuống ngang tầm với con bé.
"Không. Cây gạo vẫn đấy."
"Vậy thì mất cái gì?"
"Mất cái quyền cấy trên đấy."
Cái Đài ngẫm nghĩ, rồi gật đầu như đã hiểu, dù Chốt biết là nó chưa hiểu.
Đêm ấy Chốt mở hòm, lấy gói vải điều dưới đáy ra, và ngồi dưới ngọn đèn dầu giở cuốn sổ tay của bố.
Sổ dày bốn mươi trang giấy bản, khâu chỉ gai, mép đã quăn hết. Nó giở tới trang thứ mười một, đọc lại bốn hàng tiếng mà nó đã thuộc từ năm mười lăm.
Rồi nó giở sang trang thứ mười hai.
Trang mười hai trắng. Trắng hoàn toàn, không một nét mực, và ở góc dưới bên phải có một vết ố tròn bằng đồng xu, màu nâu nhạt, thứ vết mà giấy bản để lâu trong hòm gỗ vẫn hay có.
Chốt mài mực. Nó mài lâu hơn cần thiết, vì nó chưa biết phải viết gì.