Chương 6: Trang thứ mười hai còn trắng

Thuộc tiểu thuyết Người Đứng Trong Chỗ Vỡ

Tác giả: · Thể loại: Huyền Huyễn · Đăng ngày · 1709 từ · khoảng 9 phút đọc

Chốt đi tuần một mình lần đầu vào đêm mười tám tháng Sáu.

Nó mang theo cây xoi của bố, cái đèn bão, và cuốn sổ gói trong mảnh vải điều nhét trong ngực áo. Cái sổ không cần thiết cho việc tuần đê. Nó mang theo vì nếu để ở nhà thì suốt đêm nó sẽ nghĩ tới cái sổ.

Từ dốc đê Bãi Nổi lên mặt đê có mười bảy bậc. Nó leo lên, đứng thẳng, và nhận ra một điều rất tầm thường: đi tuần một mình thì phải tự cầm cả đèn lẫn xoi.

Ba mùa qua nó chỉ cầm đèn.

Nó thử. Kẹp cán đèn vào khuỷu tay trái, hai tay cầm xoi, dận gót. Đèn nghiêng, dầu chảy về một phía, ngọn lửa thụt xuống rồi vống lên. Nó thử lại: đặt đèn xuống đất, xoi bằng cả hai tay, rồi cúi nghe. Cách này được, nhưng mỗi lần xoi lại phải cúi nhặt đèn lên.

Tới cột mốc thứ hai thì nó bỏ hẳn cái đèn. Nó vặn nhỏ hết cỡ, treo vào cái móc ở thắt lưng, và đi trong tối.

Mắt quen sáng thì tai kém. Bố nó nói câu ấy chắc hai trăm lần.

Đêm mười tám không trăng. Mặt đê chỉ còn là một dải sẫm hơn trời một chút, và bên tay phải, sông Đáy nằm im, phản một thứ ánh sáng không rõ từ đâu.

Chốt xoi.

Lần thứ nhất: thụp. Lần thứ hai cũng thụp. Lần thứ ba, ngay dưới chân cột mốc thứ hai: bộp, đuôi ngắn.

Nó rút xoi, và định đi tiếp. Rồi nó dừng lại.

Nó lôi cuốn sổ ra, ngồi xổm xuống, vặn to đèn, và giở tới trang thứ mười một.

Trang mười một chia bốn hàng, mỗi hàng một cỡ tiếng, viết bằng chữ nôm to và thô — bố nó viết chữ như người khắc gỗ, nét nào cũng đè mạnh làm rách giấy ở chỗ ngoặt.

*Hàng một: thụp. Đặc. Không sao.* *Hàng hai: bộp, đuôi ngắn. Nước đọng, chưa đi. Khắc vạch.* *Hàng ba: bộp, đuôi dài. Nước đi. Ba đêm xoi lại.* *Hàng bốn: không có tiếng. Nguy.*

Chốt đọc lại hàng thứ tư ba lần.

*Không có tiếng. Nguy.*

Nó chưa gặp bao giờ. Bố nó cũng chưa bao giờ nói tới hàng thứ tư, và trong ba mùa đi theo, nó chưa nghe cái nào ngoài hàng một và hàng hai.

Nó gấp sổ, cất vào ngực áo, cầm dao khắc một vạch lên cột mốc thứ hai, rồi đi tiếp.

Từ mốc hai lên mốc bảy, Chốt đếm bước.

Nó đếm vì trang thứ chín trong sổ có một cột số. Cột ấy ghi bằng chữ số, mỗi dòng một cặp: tên mốc, rồi số bước từ mốc trước tới mốc ấy.

*Mốc một tới mốc hai: một nghìn hai trăm bốn mươi.* *Mốc hai tới mốc ba: một nghìn hai trăm sáu mươi.* *Mốc ba tới mốc bốn: một nghìn hai trăm ba mươi.*

Bước chân bố nó dài hơn bước chân nó. Nhưng cột số ấy cho biết một điều mà cột nào khác không cho biết: các mốc trên đê Quai Vạc cắm cách nhau gần bằng nhau, chênh nhau nhiều nhất là ba chục bước.

Chốt đếm được một nghìn ba trăm hai mươi bước thì tới mốc ba.

Nó ghi con số ấy vào lòng bàn tay bằng đầu ngón tay ướt, cách ghi tạm của người không có bút.

Từ mốc ba tới mốc bốn: một nghìn ba trăm.

Từ mốc bốn tới mốc năm: một nghìn hai trăm chín mươi.

Từ mốc năm tới mốc sáu: một nghìn ba trăm mười.

Từ mốc sáu tới mốc bảy: hai nghìn sáu trăm bảy mươi.

Chốt dừng lại giữa mặt đê.

Đếm lại từ đầu, ngược từ mốc bảy về mốc sáu, đi chậm hơn, bước cho thật đều.

Hai nghìn sáu trăm bốn mươi.

Trên đầu cột mốc sáu có người ngồi.

Chốt nhận ra khi chỉ còn cách chục bước, và nó nhận ra bằng tai chứ không bằng mắt: có tiếng ai đó khịt mũi.

"Ai đấy?"

"Tao."

"Tao là ai?"

"Nứa."

Nó vặn to đèn. Cái Nứa ngồi vắt vẻo trên đầu cột mốc, hai chân đung đưa, tóc còn ướt bết vào cổ, và bên cạnh nó đặt một cuộn dây có buộc đá.

"Mày lặn đêm à?"

"Ừ."

"Lặn đêm thì thấy cái gì."

"Có thấy đâu. Sờ chứ thấy gì." Nứa nói to hơn cần thiết, cái tật của người tai ù quanh năm. "Mày đi tuần một mình hả? Sao không rủ ai."

"Phiên nhà tao thì tao đi."

Nứa nhảy xuống. Nó thấp hơn Chốt nửa cái đầu, và khi đứng thì hai bàn chân xoè ra ngoài, kiểu chân người đứng trên bùn nhiều hơn đứng trên đất.

"Tao nghe chuyện nhà mày rồi." Nó nói. "Thầy cai bác suất à?"

"Ừ."

"Rõ khổ."

"Mày lặn cho Ty à?"

"Chứ lặn cho ai. Ty thuê, tao lặn." Nứa nhặt cuộn dây lên, quấn vào khuỷu tay theo vòng. "Nhà tao nợ Ty ba mùa cọc, sáu trăm cây. Trả bằng cọc thì lấy đâu ra tre, nên trả bằng người."

"Lặn đo cái gì?"

"Đo chân đê. Chỗ nào lở thì tao sờ, sờ xong lên nói, thầy cai ghi."

Chốt ngồi xuống bậc cỏ. Nó chỉ tay về phía cột mốc bảy, chỗ cái bóng vuông thấp lè tè cách gần một dặm.

"Mày lặn đoạn này bao lâu rồi?"

"Hai mùa."

"Đoạn từ đây tới mốc bảy, chân đê thế nào?"

Nứa dừng tay quấn dây.

"Đoạn ấy tao không lặn."

"Sao không?"

"Thầy cai bảo không phải lặn. Bảo đoạn ấy Ty đã đo rồi."

"Đo bao giờ?"

"Ai biết. Tao chỉ biết là hai mùa nay tao lặn hết từ mốc một tới mốc mười hai, trừ đúng đoạn ấy." Nứa nhét cuộn dây vào bọc. "Mà đoạn ấy dài gấp đôi đoạn khác, lặn thì mệt thấy bà, tao không lặn cũng mừng."

"Mày cũng thấy nó dài gấp đôi à?"

"Ối giời, có mắt thì thấy chứ. Ai chả thấy."

Nó xốc bọc lên vai, đi được mấy bước rồi quay lại.

"Này. Mai kia rỗi thì ra bến Sỏi."

"Làm gì?"

"Chả làm gì. Tao có cái này cho mày xem."

"Cái gì?"

"Ra thì biết."

Nứa đi về phía làng, và tiếng chân nó trên mặt đê nhỏ hơn tiếng chân người thường nhiều, vì nó đi bằng cả bàn chân chứ không đi bằng gót.

Đoạn ấy dài gấp đôi mọi đoạn khác.

Chốt lôi sổ ra, vặn đèn, giở lại trang chín. Nó dò xuống dòng ghi mốc sáu tới mốc bảy.

Dòng ấy trống.

Không phải bị xoá, không phải mờ. Cả dòng chỉ có hai chữ "mốc sáu" ở đầu, rồi bỏ trắng tới hết dòng, và dòng dưới đã chuyển sang mốc tám.

Trang mười ghi mùa nước năm ngoái. Chốt lật lại trang chín, soi nghiêng tờ giấy dưới ánh đèn để xem có nét chì nào bị tẩy không.

Không có gì. Bố nó chỉ đơn giản là không viết.

Chốt ngồi xuống chân cột mốc sáu, tắt đèn, và ngồi đấy tới lúc trời bắt đầu bạc.

Về tới nhà thì bà Sim đã dậy nhóm bếp. Bà không hỏi nó đi đâu, vì đêm phiên thì nhà nào cũng thế.

"Có gì không con?"

"Một vạch ở mốc hai ạ."

"Ừ."

Chốt ngồi xuống cạnh bếp, hơ hai bàn tay. Rồi nó lấy sổ ra, mài mực, và mở trang thứ mười hai.

Nó viết dòng đầu tiên trên trang trắng ấy bằng chữ nôm nhỏ hơn chữ bố nó nhiều, vì tay nó nhẹ hơn và ngòi bút thì cũ.

*Mốc sáu tới mốc bảy: hai nghìn sáu trăm bốn mươi bước.*

Nó thổi cho mực khô, rồi viết dòng thứ hai.

*Đoạn nào cũng một nghìn ba. Đoạn này gấp đôi.*

Nó cầm bút, định viết dòng thứ ba. Nhưng dòng thứ ba nó định viết là một câu hỏi, và trong cả bốn mươi trang sổ của bố nó không có lấy một câu hỏi nào.

Nó đặt bút xuống, gấp sổ lại, và đi ra sân múc nước rửa mặt.

Sáng ấy nó không ngủ. Nó lấy cái thẻ tre suất làng ra, ngồi ở hiên, và dùng mũi dao khắc lên mặt sau — cái mặt còn nhẵn, chưa có chữ nào.

Nó khắc một vạch dài, rồi khắc một vạch ngắn cắt ngang ở giữa.

"Anh khắc cái gì thế?" Cái Đài ngồi thụp xuống cạnh, tay vẫn ôm con vịt.

"Cái đê."

"Đê gì mà có hai gạch?"

"Gạch dài là đê. Gạch ngắn là chỗ tao chưa hiểu."

Con bé nghiêng đầu nhìn.

"Chỗ chưa hiểu thì khắc làm gì?"

"Để lần sau nhìn vào là nhớ mình chưa hiểu."

"Ơ, thế nhỡ sau này hiểu rồi thì gạch ấy tính sao?"

Chốt xoay cái thẻ trong tay. Mặt tre vàng ươm ở chỗ mới khắc, và hai cái vạch nằm chéo nhau, nông, sắc cạnh.

"Thì khắc thêm một gạch nữa." Nó nói. "Thành ba gạch."

"Rồi lại chưa hiểu cái khác thì bốn gạch?"

"Ừ."

"Thế thì đầy thẻ mất."

Cái Đài đặt con vịt xuống sân, phủi tay, rồi chìa tay ra.

"Cho em xem tí."

Chốt đưa. Con bé cầm cái thẻ bằng cả hai tay, xoay đi xoay lại, đưa lên ngang mắt ngắm nghía như người lớn xem đồ.

"Anh Chốt."

"Gì."

"Bố có cái thẻ này không?"

"Bố có thẻ Ty. To hơn, bằng đồng."

"Thẻ ấy giờ ở đâu?"

Chốt ngồi im. Nó chưa nghĩ tới chuyện ấy lần nào từ hôm mồng Tám.

Nó đứng dậy, vào nhà, mở hòm. Trong hòm có gói vải điều, có mấy bộ quần áo cũ, có cái dao cạo, và ở góc trong cùng có một cái túi vải nhỏ buộc dây.

Nó dốc cái túi ra lòng bàn tay.

Không có thẻ đồng nào cả. Trong túi chỉ có ba đồng kẽm, một cái khuy áo, và một mẩu dây chão dài chừng gang tay, cắt gọn hai đầu, sờ vào thấy còn mềm.