Chương 7: Sáu trăm cây cọc tre

Thuộc tiểu thuyết Người Đứng Trong Chỗ Vỡ

Tác giả: · Thể loại: Huyền Huyễn · Đăng ngày · 1631 từ · khoảng 8 phút đọc

Bến Sỏi nằm ở khúc đê thấp nhất, chỗ người ta phá một quãng mái đê thành bậc để kéo tre xuống nước.

Nhà cái Nứa dựng ngay chân bậc, mái rạ, vách phên, và trước cửa là hai cái ao ngâm tre — ao nào cũng đen ngòm, mặt nước phủ một lớp váng, và mùi thì đứng cách mười bước vẫn ngửi thấy.

Chốt tới vào giữa buổi sáng hai mươi tháng Sáu.

Nứa đang ngồi trên bờ ao, chân thõng xuống nước, tay cầm một cây tre dài đảo qua đảo lại trong ao như người khuấy nồi.

"Mày đảo gì đấy?"

"Đảo cho nó ngấm đều." Nứa không ngẩng lên. "Tre ngâm mà không đảo thì mặt trên mọt, mặt dưới thối."

"Ngâm mấy tháng?"

"Sáu."

"Sáu tháng mới được một mẻ?"

"Ừ. Nên nợ ba mùa thì trả bằng cách nào?" Nó rút cây tre lên, gác ngang hai cọc. "Bố tao tính rồi. Muốn trả sáu trăm cây thì phải ngâm ba ao liền ba năm, mà nhà tao có hai ao."

Nó đứng dậy, phủi đít quần, và đi vào nhà. Lát sau nó ra, cầm theo một bó que.

Bó ấy chừng bằng nắm tay, buộc dây gai, và mỗi que là một thanh tre chẻ nhỏ dài bằng ngón tay giữa.

"Cái này." Nó đưa cho Chốt. "Mày xem đi."

Chốt cởi dây, xoè bó que ra trên lòng bàn tay. Mỗi thanh tre đều có khắc vạch ở một đầu: có thanh một vạch, có thanh hai, có thanh ba.

"Thẻ công à?"

"Thẻ lặn. Mỗi buổi tao lặn thì thầy cai phát một thẻ. Một vạch là nửa buổi, hai vạch là một buổi, ba vạch là lặn đêm."

"Đưa thẻ này lên Ty thì trừ nợ?"

"Ừ."

Chốt đếm. Nó đếm hai lượt cho chắc.

"Bốn mươi mốt cái. Cộng lại là tám mươi bảy vạch."

"Tám mươi bảy vạch được bao nhiêu cây cọc?"

"Tao không biết." Nứa ngồi xổm xuống. "Đấy, cái ấy mới là chuyện."

"Ty không nói tỉ lệ à?"

"Nói chứ. Năm ngoái thầy cai bảo một vạch là hai cây. Đầu mùa này bảo một vạch là một cây rưỡi. Hôm kia bảo một vạch một cây."

"Sao lại tụt?"

"Thầy cai bảo tre năm nay rẻ."

Chốt cầm một cái thẻ lên, xoay trong tay. Mặt tre chỗ khắc còn tươi, và ở phần cán có một cái lỗ nhỏ dùi sẵn để xâu dây.

"Mày có ghi lại không? Ghi cái ngày với cái tỉ lệ?"

"Ghi vào đâu? Tao có biết chữ đâu."

"Vậy ai làm chứng?"

"Chả ai." Nứa giằng lại bó thẻ, buộc dây, nhét vào ngực áo. "Đấy, tao muốn hỏi mày cái đấy. Mày biết chữ. Mày ghi hộ tao được không?"

"Ghi vào cái gì?"

"Ghi vào cái gì cũng được. Giấy thì tao không có."

Chốt lôi cuốn sổ trong ngực áo ra. Nó giở tới trang thứ mười ba, trang còn trắng, và nhìn tờ giấy bản một lúc.

Đây là sổ của bố nó. Trong sổ ấy từ trang một tới trang mười một không có một chữ nào không phải chuyện đê.

Nó xé trang mười ba.

"Ơ, mày làm gì thế?"

"Xé cho mày một trang. Giấy này dày, viết được cả hai mặt."

"Sổ bố mày đấy."

"Ừ."

Nứa cầm tờ giấy, gấp làm tư, rồi lại mở ra.

"Mày viết đi. Viết là: hôm nay hai mươi tháng Sáu, tao có bốn mươi mốt thẻ, tám mươi bảy vạch, thầy cai bảo một vạch một cây."

"Rồi ký."

"Tao ký thế nào?"

"Điểm chỉ."

Chốt mài mực bằng nước ao — nước đen, mực ra hơi loãng, nhưng viết vẫn đọc được. Nó viết bằng chữ nôm, viết to, mỗi chữ cách nhau rộng cho dễ đọc, rồi đưa bút cho Nứa.

Nứa chấm ngón cái vào nghiên, dí xuống cuối tờ giấy, ấn mạnh. Cái dấu ra đậm, và trong dấu ấy thấy rõ mấy đường vân.

"Xong."

"Xong rồi thì cất kỹ."

"Ừ."

Nó gấp tờ giấy, nhét vào trong ống tre nhỏ đeo ở thắt lưng, cái ống mà dân lặn vẫn dùng đựng dây câu.

Hai đứa đi dọc bãi bồi lên phía đoạn Cửa Hà.

Đoạn Cửa Hà là chỗ sông ép sát chân đê nhất trên cả mười chín dặm. Bên kia sông là một dải bãi nổi giữa dòng, và nước bị dải bãi ấy ép lại, dồn hết sang bờ này, nên chân đê đoạn ấy quanh năm bị khoét.

"Đoạn này mày lặn chưa?"

"Lặn suốt."

"Chân đê thế nào?"

"Lở. Nhưng lở đều." Nứa chỉ tay xuống mặt nước, chỗ có một vệt bọt chạy dọc. "Chỗ nào lở đều thì không sợ. Sợ là chỗ lở thành hàm ếch."

"Hàm ếch thì mày sờ ra được không?"

"Được. Thò tay vào thấy trên đầu có mái."

Chốt đi men mép nước, tay cầm cây xoi, mắt nhìn mặt sông.

Nó dừng lại ba lần. Lần thứ nhất và thứ hai, nó xoi rồi đi tiếp. Lần thứ ba, nó xoi xong thì đứng im.

"Sao?"

"Xuống đây."

Nứa lội tới. Chốt đưa cán xoi cho nó.

"Áp tai vào."

Nứa cúi xuống, áp tai vào cán sắt. Nó nghe một lúc lâu hơn Chốt tưởng, rồi ngẩng lên.

"Tao chả nghe thấy gì cả."

"Không có tiếng?"

"Không."

Chốt cầm lại cây xoi. Nó xoi thêm một chỗ cách đó nửa bước, cúi nghe.

Thụp.

Nó nhích sang, xoi chỗ cũ. Cúi nghe.

Không có gì. Không phải "bộp", không phải "thụp". Cán xoi im như cắm vào một đống bông.

Trang thứ mười một, hàng thứ tư, viết bằng nét đè mạnh làm rách giấy ở chỗ ngoặt:

*Không có tiếng. Nguy.*

"Mày lặn xuống chỗ này được không?" Chốt hỏi.

"Được. Nhưng phải chờ tao lấy dây."

"Đừng lặn."

"Ơ hay, mày vừa hỏi tao lặn được không cơ mà."

"Tao hỏi để biết. Giờ tao bảo mày đừng."

Nứa nhìn nó, rồi nhìn cái cây xoi vẫn cắm dựng trên mặt đê, rồi nhìn xuống nước.

"Bố mày chết vì cái tiếng này à?"

"Bố tao chết vì cái tiếng bộp có đuôi." Chốt rút cây xoi lên. "Cái này tao chưa nghe bao giờ."

Chốt cắm cái sào tre xuống mép nước ngay chỗ ấy, buộc một mảnh vải trắng lên đầu sào.

Rồi nó ngồi xuống bờ, mở sổ, và ghi vào trang mười hai.

*Hai mươi tháng Sáu. Cửa Hà, cách mốc mười hai về xuôi hai trăm bước. Xoi ba chỗ. Chỗ giữa không có tiếng.*

Nó thổi cho mực khô. Chữ nó vẫn nhỏ hơn chữ bố, nhưng dòng đã thẳng hơn dòng đầu tiên.

"Giờ mày làm gì?" Nứa hỏi.

"Lên báo ông Trưởng Cựu."

Ông Trưởng Cựu không có nhà.

Bà cụ già coi nhà bảo ông đi từ tờ mờ sáng, lên nha Ty trên huyện, cùng với hai người nữa, mang theo sổ làng. Đi trình chuyện suất vá. Chiều tối mới về, mà cũng có khi mai.

Chốt đứng ở cổng nhà ông một lúc rồi quay ra.

Trên đường về, nó tính.

Từ giờ tới chiều tối là non bốn canh. Chỗ không có tiếng ấy nằm dưới chân đê đoạn Cửa Hà, chỗ nước ép sát nhất trên cả mười chín dặm. Nước sông hôm nay còn cách chân đê chừng trượng rưỡi, và mười lăm ngày nữa thì tới rằm tháng Bảy.

Nó không biết "không có tiếng" nghĩa là gì. Bố nó viết một chữ "nguy", và bố nó không viết thêm chữ nào.

Nhưng nó biết một điều khác, cái điều mà ba mùa đi theo bố đã dạy nó: chỗ nào không nghe được thì chỗ ấy đã không còn đất nữa. Đất có tiếng. Nước có tiếng. Cái gì cũng có tiếng. Chỉ có chỗ rỗng mà đầy nước tù thì mới nuốt hết tiếng đi.

Về tới nhà, nó không vào. Nó rẽ sang lối bờ ao, đi thẳng ra gò Vá.

Buổi trưa gò vắng. Cỏ cao tới bắp chân, và mười tám cái cọc gỗ đứng im trong nắng, cái cọc thứ mười tám còn tươi màu, chưa bạc.

Chốt ngồi xuống cạnh cái cọc mới.

"Bố ạ." Nó nói, và nói to bình thường, vì trên gò không có ai. "Con nghe được một cái ở Cửa Hà. Cái hàng thứ tư ấy."

Gió thổi qua cỏ. Từ chỗ này nhìn về, con đê Quai Vạc chạy ngang tầm mắt, và ở khúc xa nhất nó cong lại, cong về phía trong đồng.

"Con chưa biết làm thế nào." Chốt nói tiếp. "Ông Cựu đi huyện rồi. Bố có ghi thì bố ghi mỗi chữ nguy."

Nó ngồi im một lúc.

"Mà bố ghi thế cũng phải. Bố có định chết đâu mà ghi kỹ."

Chiều hôm ấy nó ra bến Sỏi lần nữa.

Nứa đang vá lưới ở đầu bậc. Nó thấy Chốt thì buông lưới xuống ngay.

"Ông Cựu bảo sao?"

"Ông đi huyện rồi."

"Mai về à?"

"Không biết."

Nứa cuộn cái lưới lại, nhét vào sọt.

"Thế mày định thế nào?"

"Tao xuống."

"Xuống đâu?"

"Xuống chỗ ấy."

Nứa đứng lên. Nó đứng thẳng người, hai bàn chân xoè ra ngoài trên nền đất bến.

"Mày điên à? Mày mười bảy. Mày chưa vá lần nào."

"Tao biết."

"Bố mày ba mươi mốt khấc mới chết. Mày một khấc chưa có."

"Tao biết."

"Biết mà vẫn xuống?"

Chốt không đáp. Nó cúi xuống nhặt cuộn dây chão nằm cạnh sọt của Nứa, cân trong tay xem nặng nhẹ, rồi vắt lên vai.

"Cho tao mượn cái dây này. Với cả mượn mày."

"Mượn tao làm gì?"

"Giữ đầu dây."