Chương 2: Một lít hai lăm nghìn

Thuộc tiểu thuyết Người Gác Đêm Hà Nội

Tác giả: · Thể loại: Đô Thị · Đăng ngày · 1773 từ · khoảng 9 phút đọc

Mười giờ sáng ngày mồng Mười tháng Bảy. Nắng đổ xuống nhựa đường hầm hập. Kiên ngồi trên chiếc ghế nhựa bạc màu của chị Vân. Anh đặt quyển vở gáy xoắn lên bàn gỗ thấp. Sách vở trên giảng đường đã bị bỏ hai buổi. Trong đầu anh chỉ có dãy số: 214.

Đó là tổng số cái tên chép bằng mực xanh. Chúng đều tăm tắp. Chỉ trừ dòng cuối trang cuối có nét chữ nghiêng hẳn. Mực ở đó đậm hơn. Quyển vở cũ kỹ. Chạm vào là ngửi thấy mùi thời gian.

Giấy bên trong đã ố vàng ở mép. Chúng giòn đi vì nhiệt độ và độ ẩm. Gáy xoắn bằng sắt han rỉ. Những vệt nâu đỏ bám chặt vào lỗ đục. Bìa vở bằng giấy cứng đã mềm nhũn. Nó bóng lên lớp mỡ mờ do mồ hôi tay.

Kiên lật trang đầu tiên. Cách ghi chép rất hệ thống. Mỗi trang là một ngã ba cụ thể. Tên đường ghi nắn nót đầu trang bằng mực đen. Phía dưới là tên người xếp thành cột dọc. Có những cái tên bị gạch đi bởi nét mực mảnh. Việc đã xong. Có những cái tên vẫn nằm im. Chúng chờ được xướng lên.

Kiên đếm nhanh một trang ngẫu nhiên. Có 40 cái tên. Anh lật đến trang cuối. Anh nhìn số trang được đánh góc dưới. Phép tính hiện ra: 40 x 5 + 14 = 214. Đúng 214 cái tên cho cả quyển vở.

Anh ngước nhìn chị Vân. Chị đang pha ấm trà mới. Làn khói mỏng bốc lên từ vòi sứ rồi tan nhanh.

"Chị, cụ Nhâm mấy hôm nay không thấy ra mở hàng?"

Chị Vân lau cốc. Chị không ngước lên, đáp tỉnh bơ:

"Cụ ấy á? Chắc cụ đi đâu chơi hoặc thăm họ hàng vài hôm. Thấy bảo cụ ít khi vắng nhà lâu. Mà đợt này chả thấy treo cái biển nghỉ nào cả."

Kiên đứng dậy dắt xe. Anh vẫn chưa yên tâm. Anh ghé qua bà bán nước bên cạnh. Bà đang xếp lại mấy bao thuốc lá.

Bà bảo: "Cụ Nhâm chắc nghỉ mấy hôm vì ốm mệt thôi. Già rồi ai chả thế."

Anh lại hỏi ông trông xe vỉa hè đối diện. Ông thản nhiên gạt tàn thuốc: "Chắc cụ về quê có việc giỗ chạp gì đó. Vài bữa lại ra ấy mà."

Ai cũng nhớ ông Nhâm. Họ nhắc tên ông bằng vẻ hiển nhiên. Họ coi ông như cái cây hay cột đèn ở phố. Họ chỉ không biết chính xác ông đang ở đâu.

Kiên ngó lại góc phố cũ. Chiếc ghế gỗ xếp chồng úp vào tường rêu. Nền xi măng còn vệt nước chè đổ đã khô. Nó tạo thành một mảng sẫm màu. Góc ấy trống huếch. Không có ai ở đó.

Chiều cùng ngày, Kiên ghé tiệm tạp hóa cũ sâu trong ngõ. Tiệm bán đủ thứ thượng vàng hạ cám. Bà chủ lôi từ gầm kệ ra cái can nhựa xanh cáu bẩn, dùng cái phễu cắt từ vỏ chai nước khoáng mà đong dầu hỏa vào một chai thủy tinh cũ.

Mùi dầu hăng hắc, bám ngay vào đầu ngón tay Kiên. Bà chủ nút chặt chai rồi nhìn anh nghi hoặc.

"Thời buổi này điện sáng choang, ai còn thắp đèn dầu làm gì hả cháu? Đi cắm trại à hay là nhà hỏng điện?"

Kiên hơi khựng lại. Anh trả lời không thật mà cũng không hẳn dối:

"Dạ, nhà cháu có việc riêng cần dùng đến ánh lửa này mới được."

Bà chủ không hỏi thêm. Bà đưa tay nhận tiền. 25.000 đồng cho một chai dầu. Kiên nhẩm tính: 25.000 tiền dầu, cộng thêm 200.000 tiền bỏ một đêm không chạy xe.

Khoản phải gửi về cho mẹ chạy thận tuần sau vẫn còn nguyên đó. Anh rút ví, đếm đủ tiền đưa bà chủ, và không tự giải thích được vì sao mình làm thế.

Đêm mồng Mười tháng Bảy, không khí thành phố đặc quánh, nóng hầm hập dù đã khuya. Kiên dừng xe ở ngã ba đường đê. Đây là nơi vắng nhất trong danh sách.

Anh tắt máy, gạt chân chống, tháo mũ bảo hiểm treo lên gương. Kiên lấy cây đèn bão từ túi xách ra. Bóng đèn thủy tinh bám bụi mịn và muội than. Kiên dùng vạt áo phông lau thật kỹ. Thủy tinh trong vắt trở lại.

Anh mở nắp bình chứa, rót dầu từ chai vào, tiếng dầu chảy nghe rõ mồn một trong con ngõ vắng. Khi dầu đầy đến cổ bình, anh vặn núm điều chỉnh. Cái bấc vải xám nhô lên cao để ngấm dầu. Anh đứng đợi ba phút.

Anh quẹt bật lửa. Ngọn lửa vàng nhỏ bùng lên. Anh khum tay che gió. Anh hạ bóng kính xuống. Anh đợi vài giây cho bóng nóng đều. Anh từ từ vặn núm.

Anh vặn đến nấc một. Ánh sáng vàng đục lan ra. Bán kính sáng khoảng một mét. Kiên bắt đầu tìm kiếm. Anh nhìn thấy VẾT.

Nó nằm trên mảng tường cũ đầy chữ quảng cáo. Những dòng sơn xịt đỏ đen lem nhem. Nhưng tại đúng chỗ ánh đèn rọi vào, tường sạch vô lý. Nó giống như tấm vải vừa được giặt. Ở vị trí khác, một khoảng bậc thềm đá trông nhẵn thín. Nó bóng hơn hẳn phần đá xung quanh.

Kiên giở quyển vở. Anh hắng giọng. Anh bắt đầu đọc thành tiếng. Cảm giác ngượng ngùng ập đến. Giọng anh ban đầu nhỏ xíu. Anh lẩm bẩm trong cổ họng.

Một chiếc xe máy đi ngang qua. Người lái xe chậm lại. Họ nhìn anh ái ngại. Họ coi anh là kẻ dở hơi hoặc gã say đang khấn vái. Kiên xoay lưng ra phía đường. Anh cúi thấp người xuống quyển vở. Anh lấy hơi và đọc to hơn.

"Trần Văn Đại, ngõ 12, phường Phúc Tân." "Lê Thị Minh Nguyệt, phường Chương Dương." "Nguyễn Mạnh Hùng, ngõ 81, đường Hồng Hà." "Phạm Thanh Bình, phường Bạch Đằng."

Mỗi khi một cái tên được xướng lên, vầng sáng dưới chân lại rung. Ngọn lửa trong đèn nhảy nhót. Lúc đó không có cơn gió nào. Anh đọc được 12 cái tên thì dừng lại. Cổ họng anh đã khô khốc. 12 trên 214. Còn lại 202 cái tên. Anh kiểm lại khoá cổ mũ hai lần. Anh di chuyển sang điểm tiếp theo.

Đến ngã ba thứ hai, Kiên lúi cúi thắp lại đèn. Một người đàn ông đi bộ ngang qua. Ông dừng lại khá lâu. Ông quan sát bộ đồng phục xe ôm sờn vai của Kiên. Ông tiến lại gần với vẻ cảm thông. Ông rút ví lấy tờ 50.000 đồng đặt vào tay Kiên.

"Thằng bé, đêm hôm thế này vất vả quá. Chắc nhà có người khuất núi nên mới phải đi khấn thế này hả? Cầm lấy mà mua bát cháo, giữ sức mà làm ăn cháu ạ."

Ông tưởng anh đang cầu siêu cho người thân tai nạn. Những lời ấy tử tế. Kiên không biết phải giải thích thế nào. Anh định từ chối. Nhưng bàn tay lao động đã tự động khép lại. Anh nắm chặt tờ tiền.

50.000 đồng bằng năm cuốc xe ngắn. Đó là tiền ăn trong hai ngày. Kiên gật đầu cảm ơn. Người đàn ông vỗ vai anh rồi bước đi.

Đợi người đó đi khuất, Kiên quay lại với cây đèn. Anh quyết định vặn núm lên nấc hai. Anh muốn xem chuyện gì xảy ra.

Anh vặn từ từ. Cái bấc nhô cao lên. Ngọn lửa chỉ dài ra một chút rồi lại thụt xuống. Độ sáng vẫn lờ mờ ở nấc một.

Lần thứ hai, anh xoay mạnh núm vặn hết cỡ. Anh hy vọng cơ chế bên trong sẽ khớp. Nhưng chiếc núm bị kẹt cứng. Có cảm giác ai đó đang giữ chặt lấy trục xoay.

Lần thứ ba, anh thổi tắt hẳn đèn. Anh tháo bóng kính ra, chỉnh lại sợi bấc cho thật thẳng rồi châm lửa lại. Kết quả vẫn không đổi. Ngọn lửa vàng đục đứng yên ở mức thấp nhất.

Kiên nhớ đến tờ 50.000 đồng trong túi. Anh nhớ lại lời dặn thứ ba của ông Nhâm. Không được nhận bất cứ thứ gì khi đang làm việc. Trong lòng anh trỗi dậy sự nghi ngờ.

Kiên rút tờ tiền ra. Anh đặt nó lại đúng mặt đường nhựa. Ngay khi tay rời khỏi tờ tiền, anh vặn núm đèn. Lần này núm xoay nhẹ tênh. Lòng anh trĩu nặng. Anh không vặn nữa mà thổi tắt đèn.

Kiên chạy xe về ngõ trọ khi trời hửng sáng. Anh leo lên căn gác xép thấp lè tè. Trần nhà gần đến mức giơ tay là chạm tới. Anh bật chiếc quạt điện cũ kêu cạch cạch. Anh đặt cây đèn bão vào góc phòng.

Mùi dầu hỏa ám vào tấm phản gỗ. Nó bám vào chăn màn. Không gian thêm ngột ngạt. Kiên lấy tờ giấy nháp. Anh viết ra những con số.

Đọc được 12 trên 214. Còn lại 202 tên. Một lít dầu giá 25.000 đọc được khoảng 40 tên. Cần khoảng 5 lít dầu nữa. Mỗi đêm chạy xe mất 200.000 tiền thu nhập.

Tổng số tiền phải hy sinh là hơn 5.000.000 đồng. Con số này không tốt cho tài chính của anh. Kiên dùng bút bi khoanh tròn nó lại. Lòng anh nặng nề.

Bên ngoài, tiếng lạch cạch của xe đẩy vang lên. Hàng xôi của bà Móm dọn ra đầu ngõ. Những chiếc thúng phủ vải bao tải. Những xấp lá chuối xanh ngắt được xếp gọn.

Bà Móm mở thúng. Bà dùng thìa gỗ xới những mẻ xôi xéo vàng óng. Mùi mỡ hành bốc lên. Khách quen đi làm sớm đã đứng chờ sẵn. Bà Móm vẫn hoàn toàn bình thường. Bà khỏe mạnh.

Bà ngẩng lên nhìn thấy Kiên. Anh đang đứng tần ngần bên xe máy. Bà cười đon đả.

"Nay đi làm về muộn thế, thằng Kiên? Vào đây ăn gói xôi cho nóng này."

Kiên nhìn xuống bậc thềm đá nơi đặt thúng xôi. Ở đó có một vệt nhẵn thín. Lớp xi măng sần sùi như bị mài mòn. Nó có hình thù kỳ lạ. Nó tách biệt hẳn với phần còn lại của bậc thềm.

Đó là một vết. Anh rút tờ tiền lẻ cuối cùng trong túi ra.

"Cho cháu một gói xôi xéo mười nghìn."