Chương 3: Bà Móm

Thuộc tiểu thuyết Người Gác Đêm Hà Nội

Tác giả: · Thể loại: Đô Thị · Đăng ngày · 2145 từ · khoảng 11 phút đọc

Đêm mười một tháng Bảy, Hà Nội oi đến mức không có một gợn gió lùa vào lớp áo khoác đồng phục. Kiên tấp xe vào góc ngã ba chỗ phố Quán Thánh giao với con ngõ nhỏ dẫn vào phía hồ. Anh không nhìn app. Anh cũng không tháo mũ bảo hiểm.

Kiên thò tay vào giỏ xe, lôi cây đèn bão ra. Bình dầu đầy khiến thân đèn nặng trịch. Anh đã tốn 50.000 đồng để mua 2 lít dầu hỏa tại cây xăng trên đường Láng lúc chập tối. Khoản tiền đó bằng đúng năm cuốc xe ngắn, hoặc bằng tiền thuốc hai ngày của mẹ.

Anh bật quẹt. Lửa liếm vào bấc, một quầng sáng màu cam đục tỏa ra. Thao tác của Kiên lần này gọn hơn đêm trước nhiều. Anh không còn lóng ngóng che gió hay sợ dầu tràn ra tay. Anh biết cách dựng chân chống xe để thân xe chắn hướng gió bấc thổi từ phía hồ vào. Anh thọc tay vào túi lấy một mẩu bút chì màu vàng, thứ anh dùng để đánh dấu trang đã đọc thay vì gấp mép vở. Kiên vặn bấc lên nấc một.

Dưới ánh sáng của nấc một, những vết loang trên bức tường cũ hiện ra rõ mệt. Đó không phải rêu, cũng không phải vết nước mưa chảy. Chỗ mảng tường sát chân cột điện bị phủ một lớp mờ đục. Lớp màng này dày thêm ra sau mỗi phút anh đứng nhìn. Nó không bám vào mặt vôi mà che lấp đi những vết nứt li ti vốn có. Những dòng chữ vẽ bậy trên tường bị che khuất một đoạn. Kiên không nhìn thẳng vào chỗ đó được. Anh cúi xuống nhìn mũi giày mình.

Kiên mở quyển vở gáy xoắn. Đêm nay anh phải đọc 42 tên ở ngã ba này.

"Nguyễn Văn Hòa."

Kiên đọc to. Giọng anh vang lên giữa phố khuya, dội lại từ những cánh cửa cuốn đóng kín.

"Trần Thị Cách."

"Lê Văn Sửu."

Mỗi cái tên rời khỏi miệng, anh lại dùng đầu ngón tay di xuống dòng tiếp theo. Chữ mực xanh dưới ánh đèn hiện lên sắc nét, nhưng khi anh vừa đọc xong, nét mực ấy nhạt đi một tông. Kiên không dừng lại. Anh biết nếu đứng quá lâu một chỗ mà không làm gì, cảm giác rỗng tuếch sẽ bắt đầu bủa vây. Đêm mười một, anh đọc xong 42 tên. Khi vặn bấc xuống và cất đèn vào túi, đồng hồ trên tay lái báo 2:15.

Đêm mười hai tháng Bảy. Còn ba đêm nữa là đến Rằm.

Kiên đứng ở một ngã ba khác, gần đền Bạch Mã. Anh đã quen với nhịp độ của công việc này. Anh thắp đèn chỉ trong mười giây. Anh chọn vị trí đứng khuất sau thùng rác công cộng để tránh ánh mắt của những người đi làm sớm. Kiên mở trang tiếp theo của cuốn sổ gáy xoắn. Từng cái tên vang lên đều đặn. Đêm nay anh đọc thêm được 36 cái tên nữa. Tổng cộng sau hai đêm gác gần đây nhất, số tên anh đọc được là 78. Những chữ cái dưới ánh đèn nấc một cứ mờ dần đi ngay khi âm thanh cuối cùng dứt khỏi môi anh. Việc đọc đã không còn làm anh thấy sợ hãi như đêm đầu tiên. Anh đọc với sự tập trung của một người đang đếm tiền.

Điện thoại trong túi quần rung lên. Là tin nhắn của Thư.

"Ông đi đâu mà offline cả đêm thế? Có cuốc sân bay 350.000 tôi không nhận được, định bắn sang cho ông mà thấy xám."

Kiên nhìn màn hình, không trả lời. Anh tắt máy, gạt chân chống xe rồi ngồi bệt xuống vỉa hè. Hai đêm nay anh không chạy xe. Cộng với đêm mồng Mười, số tiền anh hụt mất đã lên tới 400.000 đồng. Đó là con số đủ để mua mười lăm suất cơm hộp, hoặc trả một phần viện phí chạy thận tuần tới. Bụng Kiên cồn cào. Cả ngày anh chỉ ăn một gói xôi bà Móm mua từ mờ sáng. Mắt anh khô, mỗi lần chớp lại thấy như có cát cọ vào mắt. Tay Kiên cầm ghi đông không chắc. Anh đứng dậy và phải vịn vào yên xe mới giữ được thăng bằng. Anh thậm chí không nhớ nổi mình đã ăn trưa bằng món gì hay đã nói gì với mẹ lúc chiều.

Ngã ba này lạ. Ở nấc một, anh thấy vết mờ không chỉ nằm trên tường mà nó phủ kín mặt đường nhựa. Những vết ấy nhẵn thín, lan ra bao trùm lấy cả vạch kẻ đường. Quyển vở lật đến trang thứ mười lăm. Anh đọc được 12 tên thì khựng lại. Cái tên "Phạm Văn Chúc" nằm ở giữa trang, nhưng dù anh đã đọc đi đọc lại ba lần, chữ mực xanh vẫn đậm đặc, không hề có dấu hiệu nhạt đi.

Vết loang dưới chân anh đang động đậy. Chỗ vệt mờ lan rộng thêm ra. Kiên thấy tay mình run. Anh nhớ lại lời ông Nhâm. Đèn có ba nấc. Anh đặt ngón tay lên núm vặn rỉ sét. Tiếng kim loại nghiến vào nhau. Anh vặn mạnh.

Tạch.

Nấc hai.

Quầng sáng quanh cây đèn đột ngột mở rộng ra thêm hai mét. Nhưng đó không phải là ánh sáng bình thường. Không gian trong vòng sáng ấy trở nên trong suốt. Mọi thứ trong tầm đèn nấc hai đều bị biến đổi. Cái biển hiệu cửa hàng quần áo trước mặt anh ban nãy vẫn còn chữ "Thời trang xuất khẩu", giờ chỉ còn là một tấm nhựa trắng phẳng lì. Những dòng quảng cáo khoan cắt bê tông trên cột điện biến mất, để lại mặt bê tông sạch bóng.

Kiên nín thở. Hai tay anh nắm chặt lấy quai đèn đến mức gân xanh nổi lên. Anh không lùi lại. Anh không nhấc chân lên được. Kiên đứng yên được gần hai phút. Anh không dám chớp mắt. Anh thấy một dòng chữ vẽ bậy trên bức tường vàng trước mặt từ từ biến mất. Vết vôi cũ nhẵn lại, lan rộng thêm mấy phân. Một cái biển hiệu hàng cơm gần đó chỉ còn lại khung sắt, phần bạt in chữ đã trắng xóa. Một chỗ trên bậc thềm đá ngay sát chân anh trở nên nhẵn bóng hơn phần còn lại.

Tay anh run khi chạm vào núm vặn. Kiên phải dùng cả hai tay mới giữ chắc được thân đèn. Anh từ từ vặn bấc xuống. Mắt anh nhắm nghiền lại. Hơi thở anh đứt quãng, nặng nề. Anh cố không để mình ngã quỵ xuống mặt đường.

Cái "thứ kia" ở ngay sát mép vòng sáng. Kiên thấy một khoảng không gian bị bóp méo. Anh quỵ xuống bên cạnh xe. Anh phải mất năm phút ngồi thở mới dám đứng lên. Đêm ấy, anh đọc nốt những tên còn lại trong trang. Tổng cộng hai đêm, anh đã đọc được 78 tên. Cộng dồn cả sổ là 90/214. Còn 124 tên nữa.

Sáng mười ba tháng Bảy, trời sầm sì. Kiên dắt xe về đến đầu ngõ lúc 4 giờ sáng. Hàng xôi của bà Móm đã dọn ra. Thúng xôi nghi ngút khói, mùi lúa nếp thơm lẫn trong mùi lá chuối hơ nóng. Bà Móm vẫn ngồi đó, cái nón lá cũ đặt bên cạnh. Đôi tay gầy guộc đang xới xôi vào lá sen cho một người khách.

Kiên dựng xe, định vào mua gói xôi như mọi khi. Anh nhìn xuống bậc thềm đá chỗ bà ngồi. Cái vết nhẵn thín hôm qua anh thấy ở nấc một giờ đã lan rộng ra, bao trùm lấy cả thúng xôi và đôi chân bà. Chị Vân trà đá từ bên kia đường đi sang. Chị dừng lại trước hàng xôi, nhìn bà Móm rồi quay sang hỏi Kiên:

"Thằng Kiên, quán xôi này mới mở à? Nhìn bà cụ ngồi cũng gọn gàng nhỉ, không biết xôi có ngon không."

Kiên đứng sững lại. Anh nhìn chị Vân, rồi nhìn bà Móm.

"Chị nói gì thế? Bà Móm bán ở đây hai chục năm rồi mà."

Chị Vân cười, cái cười vô tư của một người đi chợ sớm. Chị vén lại lọn tóc rồi chỉ tay vào bậc thềm đá.

"Mày lại ngủ mơ à? Tao bán nước ở đây mười mấy năm, ngõ này làm gì có hàng xôi nào ngồi ở bậc thềm này. Chỗ này xưa nay vẫn bỏ không, chắc bà cụ mới ở quê lên bán mấy hôm mày nghỉ chạy chứ gì."

Kiên thấy lạnh người. Anh quay sang hỏi người mua xôi quen thuộc vẫn hay gặp mỗi sáng. Đó là anh thanh niên giao báo sớm.

"Anh ơi, anh mua xôi bà này bao giờ chưa?"

Anh thanh niên cầm gói xôi trên tay, ngơ ngác đáp:

"Tôi thấy hàng thì vào mua thôi, chắc bà mới dọn ra hôm qua."

Kiên chưa bỏ cuộc. Anh nhìn thấy ông trông xe đang nhấn còi dắt xe ra bãi. Anh chạy lại gần, hỏi gấp gáp:

"Chú ơi, bà Móm bán xôi ngõ mình lâu chưa chú?"

Ông trông xe trả lời không cần nghĩ:

"Hàng xôi nào? Ở đây làm gì có ai bán xôi. Mày đói quá hóa quẩn à."

Kiên thấy tay chân cứng đờ. Anh bước lại gần bà Móm. Bà vẫn ngồi đó. Bà vẫn thở. Trên ngực bà có tấm thẻ căn cước công dân đeo dây lồng trong túi áo nhựa, hiện rõ tên Nguyễn Thị Móm. Cái biển giá "Xôi xéo 10k" vẫn đóng đinh vào cái ghế gỗ nhỏ. Một người khách vãng lai đi ngang qua vẫn ghé lại mua một gói. Họ trả tiền, nhận xôi rồi rời đi mà không hề hỏi han gì thêm. Bà vẫn có căn cước, vẫn có biển hiệu, vẫn bán được hàng cho người lạ nhưng hàng xóm thì không còn nhớ nổi tên bà.

Bà Móm ngẩng lên nhìn Kiên. Ánh mắt bà đục mờ.

"Cháu ăn xôi gì?"

Bà hỏi anh bằng giọng nói quen thuộc suốt cả năm qua.

"Bà không nhận ra cháu à? Cháu Kiên chạy xe ôm vẫn hay mua xôi của bà đây."

Bà Móm khựng lại một nhịp, đôi tay xới xôi hơi chậm lại. Bà nhìn anh một lúc lâu, ánh mắt phẳng như một tờ giấy trắng.

"Cháu Kiên nào nhỉ? Cháu mới chuyển đến ngõ này à?"

Kiên lùi lại một bước. Anh vội lôi quyển vở gáy xoắn từ trong giỏ xe ra. Anh lật đến trang thứ hai mươi mốt. Ở ngay giữa tên một người đàn ông tên Thịnh và một đứa trẻ tên Linh, một dòng chữ mới xuất hiện. Vị trí của nó nằm chính xác ở dòng thứ mười hai của trang giấy. Nét chữ này không phải mực xanh cũ, cũng không phải mực đen của Kiên. Nó có màu đỏ xỉn, nét chữ run rẩy và nguệch ngoạc.

Dòng chữ ghi: "Nguyễn Thị Móm".

Kiên đứng ngay trước thúng xôi, mở to quyển vở và đọc lớn:

"Nguyễn Thị Móm! Bà là Nguyễn Thị Móm!"

Tiếng anh vang lên át cả tiếng xe máy nổ máy phía xa. Anh đọc lại lần thứ hai, giọng to hơn. Những người đi đường bắt đầu ngoái lại nhìn anh với ánh mắt lạ lẫm. Anh đọc tiếp lần thứ ba, gằn mạnh từng âm tiết một. Anh muốn cái tên ấy phải dội vào tai những người xung quanh. Nhưng vẫn không có gì xảy ra. Chị Vân vẫn loay hoay xếp ghế. Ông trông xe đã đi khuất vào bãi. Không có một phép màu nào trả lại ký ức cho những người quen cũ. Bà Móm vẫn nhìn anh bằng ánh mắt xa lạ, tay vẫn cầm chiếc thìa gỗ chờ đợi.

Kiên đứng đó, quyển vở mở toang trên tay. Anh nhận ra một sự thật: anh đã đến muộn. Khi một cái tên đã bị ăn mất trong trí nhớ của đám đông, việc đọc tên lên không còn là để bảo vệ nữa. Nó chỉ là để ghi nhận một sự biến mất. Cảnh tượng trước mắt anh thật quái đản. Mọi thứ hữu hình vẫn còn đó nhưng phần linh hồn liên kết giữa người với người đã đứt gãy.

Bà Móm cúi xuống, xới một nắm xôi xéo đầy đặn, rắc thêm chút hành phi rồi gói vào lá sen. Bà đưa gói xôi ra cho Kiên.

"Xôi của cháu đây. Mười nghìn."

Bà nhìn anh, một cái nhìn không một chút quen biết.

"Cháu có lấy thêm tương ớt không?"