Chương 17: Bản Thiết Kế Dưới Ánh Đèn Dầu

Thuộc tiểu thuyết Pháo Đài Phượng Hoàng 1982

Tác giả: · Thể loại: Khoa Huyễn · Đăng ngày · 2230 từ · khoảng 11 phút đọc

Mưa phùn mùa đông giăng mắc trên những vách đá vôi đảo Phượng Hoàng.

Gió bấc rít qua các khe nứt của Hang Đầm Phá. Hơi lạnh buốt giá luồn vào tận những ngách sâu.

Tám giờ sáng ngày mùng năm tháng Chạp.

Một buổi lễ truy điệu lặng lẽ và trang trọng diễn ra giữa lòng hang đá vôi. Trên chiếc bệ đá phẳng phiu, thi hài kỹ sư Vũ Đình Lâm được phủ lá cờ đỏ sao vàng. Chiếc ba lô con cóc bạc màu của anh đặt ở đầu cáng, bên cạnh là chiếc mũ cối và đôi dép cao su đúc còn dính bùn đất Cửa Cấm.

Hơn năm mươi cán bộ, chiến sĩ công binh và thợ cơ khí đứng xếp hàng ngay ngắn. Áo trấn thủ của họ còn lấm lem muội than và dầu máy sau một đêm bốc dỡ ba mươi lăm tấn thép tấm. Không ai nói một lời. Không gian tĩnh mịch chỉ có tiếng gió lùa và tiếng giọt nước nhỏ tong tong từ trần hang.

Do yêu cầu bảo mật tuyệt đối căn cứ C-82, đơn vị không thể bắn ba loạt súng trường tiễn biệt. Tàu trinh sát điện tử và máy bay do thám của đối phương vẫn đang lượn lờ ngoài phao số không. Bất kỳ một tiếng nổ lạ nào dội qua vách đá cũng có thể làm lộ vị trí âu tàu.

Đại úy Hoàng Văn Nam bước lên trước hàng quân, cất giọng trầm buồn:

"Đồng chí Vũ Đình Lâm, kỹ sư cơ khí Đại học Kỹ thuật Quân sự, đã anh dũng hy sinh trong khi làm nhiệm vụ đưa vật tư chiến lược ra đảo tiền tiêu. Đơn vị vĩnh biệt đồng chí bằng nghi thức danh dự của những người lính thợ hải quân!"

Chú Tấn cùng hai người thợ cả bước lại bên chiếc đe thép năm mươi cân đặt giữa thềm hang.

Trên tay chú Tấn là chiếc búa nguội bằng thép gió sáng bóng. Đôi mắt người thợ già đỏ hoe. Ông siết chặt cán gỗ, giơ cao búa rồi giáng nhịp đầu tiên xuống mặt đe:

Boong!

Tiếng búa đanh gọn ngân vang. Âm thanh trầm hùng dội vào vòm đá vôi, lan tỏa khắp các ngách hang sâu thẳm.

Boong! Boong! Boong!

Hai mươi mốt nhát búa nện đều đặn xuống mặt đe thép. Đó là khúc vĩ thanh bi tráng của những người thợ rèn, thay cho lời vĩnh biệt của đồng đội tiễn đưa người kỹ sư trẻ về với lòng đất mẹ. Mỗi nhát búa rơi xuống như một lời thề sắt đá khắc sâu vào tâm can từng người lính đảo.

Mười giờ trưa.

Đơn vị đưa thi hài Lâm lên gò đá san hô Tai Mèo nằm ở sườn đông đảo Phượng Hoàng. Nơi đây cây phong ba xanh ngắt đứng chắn gió biển, tầm nhìn trải rộng ra khắp vùng biển vịnh Bắc Bộ bao la.

Giang cùng Hoàng Văn Nam dùng đục sắt gọt đẽo một phiến đá san hô trắng tinh khôi làm bia mộ. Từng nét chữ sắc gọn hiện dần trên thớ đá vôi: "Liệt sĩ Vũ Đình Lâm - Kỹ sư Cơ khí Quân sự - Hy sinh ngày 05-12-1982".

Giang đứng im lìm trước nấm mồ mới đắp. Anh đặt lên mộ một nhành hoa muống biển màu tím biếc vừa hái vội mép rạn.

Gió biển thổi tung tà áo trấn thủ bạc màu. Ký ức về trận hải chiến Cửa Việt năm 1972 bất chợt trỗi dậy nhức nhối trong tâm trí Giang. Những người đồng đội đặc công Lữ đoàn 126 năm xưa từng ôm bọc mìn lao vào mạn tàu địch rồi nằm lại đáy sông sâu. Mười năm trôi qua, máu của những người lính trẻ vẫn tiếp tục thấm vào thềm lục địa.

Một giọt nước mắt nóng hổi lăn chầm chậm trên gò má sạm đen gió muối của người chỉ huy. Giang đưa bàn tay siết chặt nắm đất san hô trên mộ Lâm, giọng anh nghẹn lại:

"Yên nghỉ đi em. Máu của em sẽ không bao giờ chảy vô ích. Chúng tôi sẽ hoàn thành con tàu mà em hằng mong mỏi."

Mai Vy đứng sát bên anh. Chiếc khăn len dệt sợi Hải Phòng quàng kín cổ, đôi mắt cô ráo hoảnh nhưng sâu thẳm ánh lên một sự kiên nghị lạnh lùng. Cô hiểu rằng trước sự tàn khốc của chiến tranh và mưu đồ phong tỏa của kẻ thù, nước mắt không thể bảo vệ được vùng biển quê hương. Chỉ có những cỗ máy chiến đấu mạnh mẽ và sắc bén mới có thể răn đe hạm đội đối phương.

* * *

Chiều hôm ấy.

Gió bấc vẫn rít liên hồi ngoài vách đá. Căn phòng kỹ thuật trong lòng Hang Đầm Phá sáng rực dưới ánh đèn dầu măng-xông.

Trên mặt chiếc bàn gỗ lim, Mai Vy mở chiếc hòm sắt tây màu xanh mà Lâm đã lấy thân mình che chở đêm trước. Bên trong hòm là những tập tài liệu kỹ thuật của Viện Kỹ thuật Quân sự gửi ra: sơ đồ thủy lực cụm bơm cao áp, thông số vật liệu thép tấm cán nguội tám ly và những vòng đệm đồng thau chuyên dụng. Mép một tập tài liệu vẫn còn vệt máu khô của người kỹ sư trẻ.

Mai Vy vuốt phẳng mép giấy can A0 khổ lớn. Cô lấy bốn viên đá san hô chặn chặt bốn góc.

Cô cầm chiếc compa đo góc bằng thép gió mà mình đã tặng Giang trưa hôm trước. Chiếc compa được Giang đặt lại trên mép bàn để hỗ trợ cô trong đêm vẽ đồ án. Cô phối hợp nhịp nhàng giữa compa và chiếc thước trượt logarit bằng thép của Liên Xô.

Ngòi bút chì 2B của Mai Vy bắt đầu lướt trên mặt giấy can. Từng đường nét hình học sắc sảo hiện dần.

"Đồ án xuồng phóng lôi tàng hình Hải Yến 2," Mai Vy lẩm bẩm tính toán.

Đầu bút chì vạch một đường sống đáy uốn lượn:

"Chiều dài toàn bộ mười bốn mét rưỡi. Chiều rộng ba mét sáu. Mớn nước thiết kế một mét mốt. Thân đáy chữ V sâu hai mươi tư độ ở mũi và giảm dần về mười bốn độ ở đuôi xuồng. Kết cấu hai nấc đáy này sẽ tạo ra lớp đệm khí tự nhiên khi xuồng lướt sóng ở tốc độ trên ba mươi hải lý một giờ, giảm ma sát mặt nước tới bốn mươi phần trăm."

Giang bước vào phòng kỹ thuật. Anh nhẹ nhàng kéo chiếc ghế đẩu ngồi xuống bên cạnh cô, mắt chăm chú dõi theo từng nét chì lạ lẫm. Là một sĩ quan hải quân từng tốt nghiệp chỉ huy tàu chiến, anh đã quen thuộc với những mẫu tàu tuần tiễu vỏ tròn truyền thống của Liên Xô như lớp Komar hay Osa.

Nhưng mẫu xuồng Hải Yến 2 mà Mai Vy đang phác họa lại mang hình dáng hoàn toàn dị biệt. Thân tàu không có lấy một đường cong tròn nào. Toàn bộ cabin và thành mạn đều là những mặt phẳng vát nghiêng góc cạnh.

"Vy, tại sao thành mạn và cabin lại vát nghiêng góc bảy mươi lăm độ?" Giang chỉ tay vào mặt cắt ngang. "Góc vát này làm giảm thể tích khoang chứa bên trong khá nhiều."

Mai Vy dừng ngòi bút chì, ngước nhìn anh giải thích cặn kẽ:

"Đó là nguyên lý tán xạ sóng vô tuyến, anh Giang. Radar trinh sát AN/SPS-40 trên tàu khu trục đối phương phát ra sóng điện từ dải X-band và S-band. Khi sóng radar gặp các mặt phẳng dựng đứng chín mươi độ của tàu thuyền thông thường, sóng sẽ phản hồi trực tiếp về ăng-ten thu của chúng. Nhưng khi chúng ta vát nghiêng toàn bộ bề mặt một góc bảy mươi lăm độ, chùm sóng phóng tới sẽ bị phản xạ văng lên trời hoặc dội xuống mặt nước. Diện tích phản xạ radar của chiếc xuồng dài mười bốn mét này sẽ tụt từ mười lăm mét vuông xuống chỉ còn không phẩy hai mét vuông."

Giang nheo mắt nhìn đường vát trên giấy:

"Không phẩy hai mét vuông... Nghĩa là trên màn hình radar của tàu khu trục Mỹ, con tàu của chúng ta chỉ hiển thị như một con mòng biển hoặc một ngọn sóng nhấp nhô?"

"Đúng vậy," Mai Vy gật đầu quả quyết. "Chúng ta sẽ biến thành một bóng ma trên sóng nước."

Cô lật sang bản vẽ mặt cắt dọc, ngòi bút chì chuyển sang cụm cơ cấu vũ khí:

"Hai ống phóng ngư lôi đường kính bốn trăm mi-li-mét bằng hợp kim titan dày sáu ly sẽ được bố trí ẩn dọc theo hai bên mạn, nằm dưới nắp che vát nghiêng. Để tránh tạo ra luồng lửa phụt hay bọt khí sủi tăm làm lộ vị trí khi khai hỏa, em thiết kế hệ thống đẩy nguội bằng bình khí nén áp lực hai trăm át-mốt-phe. Khi điểm hỏa, khí nén cao áp sẽ đẩy quả lôi trượt êm ra khỏi ống phóng với sơ tốc mười hai mét một giây trước khi chân vịt ngư lôi tự kích hoạt."

Giang nhìn vào từng đường nét chi tiết của bản vẽ. Anh cảm nhận được sức mạnh răn đe to lớn ẩn chứa trong cỗ máy nhỏ gọn này:

"Kết cấu vỏ thép chia khoang thế nào?"

"Lòng xuồng chia làm bốn khoang kín nước độc lập," Mai Vy vạch bốn vách ngăn ngang. "Khoang mũi chứa máy nén khí, khoang lái điều khiển trung tâm, khoang chứa nhiên liệu dầu dừa dã chiến và khoang máy đẩy đuôi tàu. Dù một khoang bị thủng do mảnh pháo, ba khoang còn lại vẫn bảo đảm xuồng nổi vững vàng."

Một cơn mỏi mệt ập đến khiến mi mắt Mai Vy nặng trĩu. Cả ngày lội đá gió rét dự lễ truy điệu và thức trắng đêm qua đã vắt kiệt sức lực của cô gái trẻ. Mai Vy buông nhẹ chiếc bút chì, đưa tay xoa nhẹ hai bên thái dương.

Giang đứng dậy. Anh bước lại góc hầm, bưng ra một chiếc bát sành men da lươn bốc khói nghi ngút đặt xuống cạnh bản vẽ:

"Nghỉ tay một lát đi em. Uống bát nước chè hoa cúc đường phèn này cho ấm người."

Mùi thơm thanh tao của hoa cúc khô hòa quyện với vị ngọt lành của đường phèn Hải Phòng lan tỏa trong căn hầm đá. Đây là số đường phèn do hậu phương đất Cảng gửi theo tàu T-16 ra đảo đêm trước.

Mai Vy đón lấy bát nước chè nóng. Hơi ấm lan qua mười đầu ngón tay buốt lạnh. Cô nhấp một ngụm nhỏ, vị ngọt dịu thấm vào cổ họng làm tan biến cảm giác mệt mỏi:

"Anh cũng chưa ngủ từ đêm qua. Sao không chợp mắt một chút?"

Giang ngồi xuống bên cạnh, lấy chiếc dao nhíp nhỏ tỉ mỉ gọt lại từng chiếc bút chì cho cô:

"Đứng trước mộ Lâm trưa nay, tôi không sao chợp mắt được. Nhìn thấy em cặm cụi từng nét vẽ để biến ước nguyện của Lâm thành hiện thực, tôi thấy lòng mình nhẹ đi nhiều."

Những mẩu gỗ thông rơi lách tách xuống sàn đá. Dưới ánh đèn dầu leo lét, hai con người lặng lẽ san sẻ từng phút giây gian khổ giữa mùa đông hải đảo. Sự gắn kết giữa họ không cần đến những lời hẹn thề hoa mỹ. Đó là sự thấu hiểu sâu sắc của hai người đồng chí cùng chung một lý tưởng bảo vệ biển trời Tổ quốc.

Năm giờ sáng ngày mùng sáu tháng Chạp.

Tiếng chim biển chao liệng ngoài cửa hang báo hiệu bình minh.

Mai Vy đặt chiếc thước kẻ gỗ xuống bàn. Bản vẽ kỹ thuật tổng thể của xuồng phóng lôi tàng hình Hải Yến 2 đã hoàn thành trọn vẹn từng chi tiết kích thước.

Cửa hầm bỗng bật mở.

Chú Tấn sải bước bước vào, chiếc tẩu thuốc lào trên tay phả khói thơm nồng:

"Bản vẽ hoàn thành chưa hai đứa? Kíp thợ chúng tôi mài sẵn búa đe ngoài kia rồi!"

Mai Vy mỉm cười, trải rộng tấm giấy can A0 trước mặt người thợ cả:

"Bản vẽ đây chú Tấn! Ba mươi tấn thép cán nguội ngoài kia sắp có linh hồn rồi!"

Chú Tấn cúi xuống, đeo chiếc kính lão gọng sắt vào mắt. Đôi bàn tay chai sạn run run lần theo từng đường vát góc cạnh kỳ lạ của bản thiết kế. Đôi mắt người thợ già sáng rực lên niềm thán phục:

"Góc vát lườn tàu này lạ lẫm thật! Cả đời tôi đóng tàu ở Ba Son chưa từng thấy dáng tàu nào sắc sảo nhường này!"

Người thợ cả đập mạnh tay xuống bàn, giọng hào sảng vang dội:

"Anh em thợ cơ khí đâu! Nổi lửa lò than đá! Bắt đầu gá khung Hải Yến 2!"

Tiếng reo hò của những người lính thợ rộ lên ngoài cửa hầm. Khói than đá bắt đầu cuộn tròn bốc lên vòm hang đá vôi.