Chương 20: Khung Sườn Thép Đứng Vững Giữa Hang

Thuộc tiểu thuyết Pháo Đài Phượng Hoàng 1982

Tác giả: · Thể loại: Khoa Huyễn · Đăng ngày · 2090 từ · khoảng 10 phút đọc

Ánh lửa hàn hồ quang điện lóe lên lần cuối cùng rồi tắt hẳn.

Khói trắng mang mùi oxit sắt cuộn tròn theo luồng gió hút bay lên vòm hang đá vôi.

Giữa thềm đá phẳng phiu của Hang Đầm Phá, khung sườn thép của xuồng phóng lôi tàng hình Hải Yến 2 đã vươn cao vững chãi trên bệ đỡ. Ba mươi tấn thép hợp kim cán nguội đã được cắt gọt, uốn nắn thành hệ khung xương chữ V kép góc vát nghiêng bảy mươi lăm độ. Từng khớp nối dầm ngang được gia cố bằng các bản mã thép mười ly siết chặt bu-lông cường độ cao. Hai ống phóng ngư lôi bằng hợp kim titan nằm gọn trong hốc gá thép hai bên mạn sườn.

Chú Tấn gạt kính hàn lên trán. Khuôn mặt người thợ cả lấm lem bồ hóng than đá. Chú đưa bàn tay chai sần vuốt dọc sống dầm chính của thân xuồng. Khung thép mát lạnh dưới lòng bàn tay. Từng mối hàn ngấu đều tăm tắp, không có một bọt xỉ kim loại.

Người thợ cả quay lại nhìn kíp thợ, cất tiếng dõng dạc:

"Xong phần khung vỏ rồi các đồng chí ơi! Khung thép này đủ sức chịu được sóng biển cấp tám. Cơ khí Hải Phòng đã làm là chuẩn mực!"

Mấy chục chiến sĩ công binh và thợ cơ khí buông kìm búa xuống sàn đá. Những chuỗi ngày đêm quai búa, uốn nắn từng tấm thép tám ly đã đơm hoa kết trái. Cỗ máy chiến đấu uy dũng đang dần thành hình giữa lòng hang ngầm. Ánh mắt ai nấy đều rạng rỡ niềm tự hào.

Đại úy Hoàng Văn Nam từ trạm chỉ huy bước xuống thềm hang. Anh rút từ túi áo ngực ra một chiếc búa nhỏ và chiếc đục thép gió sáng loáng:

"Theo truyền thống xưởng đóng tàu của quân đội ta, mỗi khi một con tàu mới dựng xong bộ khung xương chính, kíp thợ và kíp chiến đấu sẽ cùng nhau khắc dấu định danh."

Chú Tấn bước lên nhận chiếc đục đầu tiên. Bàn tay người thợ già giáng ba nhát búa đanh gọn lên sống dầm thép chính:

Keng! Keng! Keng!

Dòng chữ nổi hiện lên trên thớ thép cán nguội: PHƯỢNG HOÀNG - HẢI PHÒNG.

Tiếp đó, chú Tấn trân trọng trao chiếc đục cho Mai Vy. Cô nắn nót khắc thêm ký hiệu kỹ thuật: HY-02.

Hoàng Văn Nam giáng búa khắc dấu mốc thời gian: 08-12-1982.

Cuối cùng, chiếc đục được trao lại cho Trần Hải Giang.

Giang siết chặt chuôi búa. Anh giáng nhát búa dứt khoát, khắc sâu một ngôi sao năm cánh sắc nét bên cạnh dòng tên tàu:

Keng!

"Thưa các đồng chí," Giang ngẩng đầu nhìn mọi người, giọng anh đĩnh đạc và âm vang khắp vòm hang. "Bộ khung thép này là mồ hôi của kíp thợ và máu của đồng chí Lâm. Đêm nay, kíp thợ nghỉ ngơi hai tiếng. Đúng mười một giờ đêm, chúng ta sẽ bắt tay vào cẩu lắp cụm động cơ phản lực nước!"

"Rõ!" Tiếng hô vang dậy khắp vòm đá.

Giang cùng chú Tấn đi vòng quanh khoang máy ở đuôi tàu kiểm tra lại bốn chiếc tai cẩu chịu lực. Từng mối hàn của bản mã thép mười ly liên kết với sống chính được gõ kiểm tra cẩn thận. Khối động cơ diesel tăng áp nặng hơn hai tấn đang nằm trên giá đỡ ngoài cửa hầm. Đêm nay, khi thủy triều dâng cao nhất, kíp thợ sẽ dùng pa-lăng xích chịu lực mười tấn để đưa cỗ máy vào đúng tâm bệ đỡ.

"Mọi thứ đã sẵn sàng cho ca đêm, thưa Chỉ huy trưởng," chú Tấn châm lại điếu thuốc lào, quẹt diêm phà khói. "Anh em tranh thủ chợp mắt lấy sức, đúng giờ hẹn là vào vị trí ngay."

* * *

Chín giờ tối.

Vầng trăng tròn tháng Chạp nhô lên khỏi đường chân trời phía đông.

Ánh trăng rọi qua làn sương muối mỏng manh, trải một dải sáng lung linh lên những triền sóng ngoài vịnh Bắc Bộ. Gió mùa đông bắc thổi qua rạn đá Tai Mèo từng cơn lạnh buốt. Phía xa xa, bóng cây phong ba trên gò đá san hô khẽ lay động bên nấm mộ mới đắp của kỹ sư Lâm.

Giang khoác chiếc áo trấn thủ bạc màu, bước lên đài quan sát rạn đá ngoài. Bàn tay anh vô thức chạm vào chiếc compa bằng thép gió nằm trong túi áo ngực trái. Kim loại mát lạnh áp vào thớ thịt, nhắc nhớ anh về trách nhiệm người cầm lái.

Một bóng người mảnh dẻ quàng chiếc khăn len màu xanh hải quân đang đứng tựa vào gờ đá vôi. Mai Vy đứng đó đón gió biển, ánh mắt cô lặng lẽ dõi theo những vệt sóng bạc nhấp nhô dưới ánh trăng.

Nghe tiếng bước chân lạo xạo trên đá san hô, Mai Vy quay đầu lại. Thấy Giang bước tới, cô cất tiếng hỏi nhỏ:

"Anh Giang... Sao anh không tranh thủ chợp mắt một lát?"

Giang bước lại đứng bên cạnh cô. Anh nhìn ra biển đêm bao la:

"Gió biển đêm trăng thế này khó ngủ lắm. Đứng ngoài này nhìn sóng, đầu óc tôi mới thấy nhẹ nhõm."

Hai người đứng im lặng bên nhau. Tiếng sóng vỗ vào chân vách đá rì rào, êm đềm như một khúc hát ru của biển cả.

Giang đưa tay sờ nhẹ lên ngực áo trái. Anh ngập ngừng một lát, rồi từ từ mở hai chiếc cúc áo trấn thủ bên ngoài. Dưới ánh trăng rọi sáng, một vết sẹo dài lồi cộm, tím sẫm chạy chéo từ xương quai xanh xuống tận mạn sườn trái hiện ra rõ rệt trên làn da sạm gió của anh.

Mai Vy khẽ giật mình. Cô nhìn vết sẹo hằn sâu trên ngực người chỉ huy:

"Vết thương này... từ trận đánh nào vậy anh?"

Giang khép nhẹ vạt áo, ánh mắt anh nhìn xa xăm về phía chân trời mù mịt sương đêm. Ký ức mười năm trước dội về trong tâm trí anh, nóng bỏng và đau đớn:

"Cửa Việt. Tháng Giêng năm 1973, ngay trước thềm Hiệp định Paris có hiệu lực."

Giọng Giang chùng xuống, trầm đục như tiếng sóng đáy sâu:

"Hồi ấy, tôi là lính đặc công nước thuộc Lữ đoàn 126. Đơn vị nhận lệnh luồn sâu vào cửa sông, đánh chìm các tàu vận tải bọc thép của đối phương để chặn đường tiếp tế và giữ vững vùng giải phóng Cửa Việt. Đêm hôm ấy trời tối đen như mực. Tiểu đội tôi gồm sáu anh em ngậm ống thở bơi ngầm áp sát mục tiêu."

Gió biển thổi bay những lọn tóc mai bên gò má cô gái. Mai Vy im lặng lắng nghe từng lời tâm sự nghẹn ngào.

"Chúng tôi gài xong khối bộc phá áp lực vào đáy tàu địch," Giang tiếp tục, từng ngón tay anh siết chặt gờ đá lạnh ngắt. "Nhưng khi rút lui ra mép rạn cạn, tàu tuần tiễu đối phương bất ngờ rọi đèn pha và nã pháo hai mươi ly quét ngang mặt nước. Đạn pháo nổ xối xả. Luồng nước quanh chúng tôi bị cày xới dữ dội."

Lồng ngực Giang phập phồng theo nỗi đau ký ức:

"Anh Hoàng, tiểu đội trưởng của tôi, quê ở Thủy Nguyên đất Cảng. Anh ấy bơi ngay cạnh tôi. Thấy luồng đạn quét tới, anh ấy quàng tay kéo giật tôi xuống bùn đáy, lấy cả thân mình che chắn cho tôi. Quả đạn pháo nổ cách chúng tôi chưa đầy ba mét. Mảnh đạn phạt rách lưng anh Hoàng. Một mảnh xuyên qua bả vai anh ấy găm sâu vào lồng ngực tôi."

Mắt Giang đỏ hoe. Anh kìm nén tiếng thở dài:

"Anh Hoàng hy sinh ngay dưới đáy sông lạnh giá. Năm người đồng đội cùng vào sinh ra tử trong tiểu đội ấy đều vĩnh viễn nằm lại nơi cửa biển Cửa Việt. Chỉ có mình tôi sống sót nhờ tấm lưng của người tiểu đội trưởng. Bác sĩ quân y mổ moi mảnh đạn pháo trong hầm dã chiến không có thuốc tê. Mảnh sắt ấy cắm sát màng tim chỉ một phân."

Mai Vy thấy tim mình thắt lại. Cô nhìn người lính biển kiên cường đang run nhẹ bờ vai trước gió lạnh.

"Suốt mười năm qua, mỗi khi gió mùa đông bắc tràn về, vết sẹo này lại nhói buốt," giọng Giang nghẹn lại. "Tôi luôn tự hỏi: tại sao đồng đội tôi ngã xuống khi tuổi đời mới mười tám đôi mươi, mà tôi lại được sống sót trở về? Nỗi dằn vặt ấy chưa bao giờ nguôi ngoai."

Mai Vy bước lại gần anh hơn một bước. Bàn tay cô nhẹ nhàng đặt lên mu bàn tay thô ráp của người chỉ huy. Hơi ấm dịu dàng xua tan đi cái lạnh buốt của sương đêm:

"Đồng đội trao mạng sống cho anh để anh tiếp tục cầm lái giữ biển. Anh sống sót để gánh vác phần việc của những người đã khuất. Nếu không có anh, ai sẽ chỉ huy con tàu X-01 dũng cảm xuất kích giải vây cho tàu T-16 đêm qua? Ai sẽ bảo vệ hòn đảo này?"

Giang quay sang nhìn cô gái. Ánh trăng soi rõ đôi mắt trong trẻo và kiên định của Mai Vy.

Anh cảm nhận rõ sự thấu hiểu chân thành trong từng ánh mắt, cử chỉ của cô. Cô gái này tuy mang theo những tri thức tương lai kỳ lạ, nhưng tâm hồn cô lại gắn liền máu thịt với mảnh đất này. Cô thức trắng đêm chăm sóc vết bỏng cho anh, cô rơi nước mắt bên thi hài liệt sĩ Lâm, và giờ đây cô đang sẻ chia nỗi đau thầm kín nhất của cuộc đời anh.

Mai Vy khẽ siết nhẹ tay anh, giọng cô nhỏ nhẹ nhưng rắn rỏi:

"Ở thế giới trước kia của tôi, mọi thứ đều lạnh lùng và tính toán bằng máy móc vô cảm. Nhưng khi đến hòn đảo này, nhìn thấy các anh và chú Tấn, tôi mới hiểu được sức mạnh thực sự của con người Việt Nam. Tình cảm và sự kiên cường của các anh đã sưởi ấm tâm hồn tôi. Chúng ta sẽ cùng nhau giữ vững hòn đảo này."

Hai người đứng bên nhau trên mỏm đá rạn Tai Mèo. Gió bấc vẫn thổi qua khe đá, nhưng hơi ấm lan tỏa giữa hai người đồng chí. Họ nhìn về phía biển khơi xa xăm, nơi những con sóng bạc đầu đang cuộn trào trong đêm trăng sáng.

Tít! Tít! Tít!

Tiếng chuông điện thoại dã chiến bỗng réo vang dồn dập từ phía chòi quan sát đỉnh núi.

Tiếng bước chân gấp gáp của Hoàng Văn Nam vang lên trên sườn dốc. Người đồn trưởng thở dốc khi bước lên mỏm đá:

"Báo cáo Chỉ huy trưởng! Đài radar trên đỉnh núi vừa phát hiện mục tiêu lạ!"

Giang lập tức cài lại cúc áo trấn thủ, quay sang Nam:

"Báo cáo rõ tọa độ!"

"Cách đảo hai mươi hải lý về phía đông nam, tàu khu trục USS Fletcher của đối phương vừa tiến sát mép hải phận quốc tế. Đài trinh sát còn bắt được tín hiệu thủy âm lạ ở tầng nước sâu luồng Hòn Én. Tàu ngầm Hammerhead đang lượn quanh cửa luồng!"

Mai Vy nheo mắt nhìn về hướng đông nam:

"Đại tá Robert Vance đã bắt đầu siết chặt chiến dịch Móng Vuốt Biển. Chúng muốn bịt kín đường ra biển của chúng ta trước khi chiếc Hải Yến 2 kịp hoàn thành."

Giang siết chặt nắm tay. Ánh mắt anh đanh lại:

"Chúng muốn phong tỏa hòn đảo này sao? Bọn chúng tính toán nhầm rồi!"

Anh quay sang Mai Vy, giọng dứt khoát:

"Vy! Xuống âu tàu ngay! Đêm nay chúng ta lắp cụm động cơ phản lực nước. Đúng 24 giờ tới, Hải Yến 2 sẽ rẽ sóng xuất kích!"

"Rõ!" Mai Vy đáp rành rọt.

Hai người rảo bước lao xuống bậc đá dẫn vào lòng núi. Ánh trăng rọi theo những bước chân kiên định của những người lính giữ biển, sẵn sàng bước vào trận quyết chiến nơi đầu sóng ngọn gió.