Chương 23: Vòi Phun Nước Dưới Rạn Ngầm
Thuộc tiểu thuyết Pháo Đài Phượng Hoàng 1982
Tác giả: Hà Tinh Vân · Thể loại: Khoa Huyễn · Đăng ngày · 2052 từ · khoảng 10 phút đọc
Gió biển rít từng cơn lạnh buốt qua những khe đá tai mèo của rạn san hô Hòn Én.
Đêm đen như mực. Sóng gầm gào ngoài rãnh sâu, bọt nước trắng xóa vỗ vào chân vách đá dựng đứng.
Dưới mép nước, hai chiếc xuồng cao tốc màu xám tro của phân đội biệt kích SEAL thuộc Hạm đội 7 đang tắt máy chính. Chúng thả trôi nương theo dòng nước ròng. Sáu bóng đen mặc đồ lặn màu đen bó sát, súng tiểu liên bọc kín trong túi chống nước. Mắt họ dán chặt vào kính nhìn đêm quang học.
Họ đang tìm kiếm khe nứt ngầm dẫn vào lòng núi đảo Phượng Hoàng. Đó là nơi bức ảnh nhiệt của vệ tinh KH-11 vừa ghi nhận nguồn phát xạ kim loại bất thường.
"Dừng lại! Có dây bẫy!" Người lính đi đầu ra hiệu bằng tay, thì thầm qua ống nghe kín khí.
Cách mũi xuồng chưa đầy mười mét, một sợi dây cước mảnh giăng ngang giữa hai mỏm đá ngầm. Đầu dây nối thẳng vào kíp nổ của ba quả mìn san hô áp lực giấu kín dưới gốc đá.
Trên gờ đá cao ba mươi mét phía trên đầu họ, Đại úy Hoàng Văn Nam cùng bốn tay súng bắn tỉa của đồn đảo đang nằm ép mình trong khe đá vôi. Hai chiến sĩ đặc công nước Lữ đoàn 126 cũng đang ngâm mình dưới ngách đá ngầm sẵn sàng xuất kích. Nòng súng AK báng gấp đã khóa chặt vào bóng chiếc xuồng đi đầu.
Để chuẩn bị cho trận địa bẫy đá này, Nam và các chiến sĩ công binh đã khoét rỗng một gờ đá vôi yếu từ ba ngày trước. Họ chêm vào chân tảng đá những thanh gỗ lim nối dây kéo giật từ xa. Dưới đáy luồng, hai quả mìn chống xuồng đổ bộ được ngụy trang bằng vỏ sò biển, chỉ kích nổ bằng dây kéo cơ học để tránh tạo ra xung điện từ làm lộ vị trí.
Nam không nổ súng. Nổ súng lúc này sẽ làm lộ vị trí của cả hòn đảo trước radar và pháo hạm của tàu khu trục USS Fletcher đang lảng vảng ngoài khơi.
Anh khẽ giật sợi dây thừng phụ bên tay trái.
Ùm! Ầm!
Một tảng đá vôi nặng chừng nửa tạ từ vách núi cao lao thẳng xuống mặt nước bên ngoài luồng lạch. Cột sóng lớn bốc lên kèm theo âm thanh vang dội như một vụ lở đá tự nhiên. Đúng lúc đó, hai chiến sĩ đặc công nước giật nổ một khối bộc phá áp lực dã chiến đặt sâu dưới đáy luồng.
Một luồng sóng cuộn xoáy ngầm bất ngờ dâng lên. Dòng nước mạnh đẩy dạt chiếc xuồng đi đầu va mạnh vào rạn đá cạn Tai Mèo. Mạn xuồng cao tốc cọ xát khô khốc vào vỏ hàu sắc nhọn.
Tiếng va đập dội vào vách đá khiến hai chiếc xuồng biệt kích hoảng hốt lùi lại. Nhận thấy luồng lạch quá hiểm trở và nguy cơ bị đá đè chìm thuyền giữa đêm tối, viên chỉ huy phân đội SEAL ra hiệu quay đầu. Tiếng động cơ điện chạy ắc-quy rù rì khẽ khàng rồi tan biến vào màn sương mù ngoài khơi.
"Chúng đã rút lui!" Nam thở phào, ra hiệu cho các chiến sĩ duy trì cảnh giới cao độ.
Mối nguy hiểm tạm thời trôi qua. Nhưng Nam biết rất rõ: Vòng vây của Hạm đội 7 đang siết chặt từng giờ.
* * *
Trong lòng Hang Đầm Phá, kíp thợ của chú Tấn vẫn đang chạy đua với thời gian.
Dưới ánh đèn măng-xông vàng vọt, toàn bộ phần đuôi xuồng Hải Yến 2 đang được mở rộng để lắp đặt cụm vòi phun phản lực nước. Đây là cỗ máy quyết định tính mạng của toàn bộ kíp chiến đấu khi xuất kích.
Khác với tàu thuyền thông thường dùng chân vịt hở ngoài mạn, Hải Yến 2 sử dụng hệ thống bơm phản lực nước đặt chìm hoàn toàn trong lườn thuyền. Nước biển được hút qua cửa thu dưới đáy lườn, nén lại qua buồng cánh quạt đa tầng rồi phụt ra ngoài qua ống xả hẹp ở đuôi thuyền với tốc độ cực lớn, đẩy con thuyền lướt đi trên mặt sóng.
Ưu điểm lớn nhất của hệ thống này là triệt tiêu hoàn toàn hiện tượng bọt khí xâm thực. Khi tàu chạy cao tốc, chân vịt truyền thống tạo ra hàng triệu bọt khí li ti phát ra tiếng rít đặc trưng mà các phao thủy âm săn ngầm của đối phương dễ dàng phát hiện. Bơm phản lực nước giải quyết triệt để nhược điểm chết người ấy.
Thế nhưng, chế tạo một cụm bơm phản lực nước bằng hợp kim nhôm-magiê đúc dã chiến trong điều kiện năm 1982 là một thử thách nghiệt ngã.
Kíp thợ đã phải thu gom hơn hai trăm chiếc nắp quy-lát xe tải giải phóng cũ từ các bãi xe phế liệu đất Cảng. Chú Tấn dùng lò nung than đá nấu chảy nhôm, rắc muối ăn và xỉ than nghiền mịn để hút hết bọt khí và oxit tạp chất nổi lên bề mặt. Khuôn đúc được làm bằng cát thạch anh trộn mật mía nén chặt trong hòm gỗ. Nhờ đó, phôi đúc buồng bơm và cánh quạt đạt độ đặc sít, không bị rỗ xỉ kim loại.
"Kéo tời lên năm phân nữa!" Chú Tấn lau vệt dầu mỡ trên trán, hô lớn: "Đưa trục bơm vào khớp then hoa!"
Khối vỏ bơm bằng hợp kim nhôm đúc sáng loáng được sáu người thợ khiêng lên bệ đỡ đuôi thuyền.
Cạch! Keng!
Trục bơm ăn khớp vào trục thứ cấp của động cơ diesel ba ngàn mã lực. Nhưng khi chú Tấn dùng cờ-lê quay thử một vòng tay, cánh quạt bên trong bỗng phát ra tiếng cọ xát rít rền.
"Kẹt rồi!" Chú Tấn nhíu mày, mặt đẫm mồ hôi: "Mép cánh quạt chạm vào thành buồng nén! Độ hở hướng kính không đều, chỗ hở ba ly, chỗ lại cọ sát sạt!"
Mai Vy bước lại gần, tay cầm chiếc đèn soi khe hẹp rọi sâu vào lòng ống xả nhôm.
Ánh sáng vàng quét qua những cánh quạt cong vút. Vết chạm chỉ là một vệt xước mỏng như sợi chỉ. Nhưng trong tính toán cơ học của Mai Vy, hiểm họa lớn hơn thế gấp bội.
Khi động cơ quay ở tốc độ hai ngàn bốn trăm vòng một phút, lưu lượng nước hút vào lên tới hơn một trăm hai mươi mét khối mỗi phút. Áp lực dòng chảy khổng lồ sẽ tạo ra các dòng xoáy cuộn cực mạnh ở mép cánh lái. Nếu biên dạng không chuẩn xác, dòng xoáy này sẽ làm nứt vỡ thành nhôm mỏng, làm gãy cánh quạt ngay khi vừa ra khỏi cửa hang.
Mai Vy mở chiếc cặp da lấy ra tập giấy kẻ ô ly. Cô đặt chiếc compa và thước trượt logarit lên mặt bàn gỗ lim. Đầu ngón tay cô lướt nhanh trên các phương trình thủy động học:
"Dòng chảy rối áp lực cao qua miệng xả phụ thuộc vào biên dạng cong xoắn ốc logarit. Mỗi cánh trong chuỗi ba cánh nắn dòng phải giảm góc vát mép cắt nước từ mười lăm độ xuống đúng tám độ để phân tán lực cản thủy động. Mép cánh quạt cần gọt vát một góc lượn bán kính hai mi-li-mét để triệt tiêu dòng xoáy cục bộ."
Cô cầm thanh phấn trắng, trực tiếp vẽ biên dạng sửa đổi lên từng cánh quạt nhôm:
"Chú Tấn, chúng ta phải dũa nguội hạ bớt một ly rưỡi ở phần lưng cánh quạt số hai và số ba. Phần mép cắt nước vuốt nghiêng tám độ theo đường phấn này."
Chú Tấn soi kính lão nhìn từng đường phấn mảnh mai của Mai Vy. Người thợ cả gật đầu tấm tắc:
"Đúng là mắt nghề của dân cơ khí! Nhìn qua là thấy ngay chỗ thắt dòng chảy! Đưa giũa lòng mo và giấy ráp dầu lại đây cho tôi!"
Bàn tay chai sần của chú Tấn thoăn thoắt đưa từng đường giũa đanh gọn. Mạt nhôm trắng mịn bay lả tả xuống sàn gỗ. Những nhát giũa điêu luyện của người thợ bậc bảy gọt phẳng từng góc mép gồ ghề.
Mồ hôi túa ra trên trán người thợ già. Từng giọt mồ hôi rơi xuống thớ kim loại mát lạnh.
Trần Hải Giang đứng bên cạnh, liên tục dùng chổi lông quét sạch phoi nhôm và tra dầu nhờn bôi trơn các then hoa. Anh nhìn chú Tấn miệt mài từng nhát giũa, càng thêm khâm phục bàn tay tài hoa của người thợ cả đất Cảng:
"Chú Tấn nghỉ tay uống ngụm nước chanh đường phèn đã chú."
"Nghỉ sao được lúc này hả cháu Giang!" Chú Tấn quẹt mồ hôi, cười hào sảng: "Ngoài kia giặc đang rình rập cửa hang. Ta bớt một giờ ngủ là xuồng sớm có nanh vuốt thêm một giờ. Cứ để lão già này làm cho xong!"
Sau hai tiếng miệt mài giũa nguội và đánh bóng bằng giấy ráp dầu, Mai Vy dùng thước đo góc cơ khí kiểm tra lại từng cánh nắn dòng:
"Góc vát chuẩn tám độ! Bán kính lượn hai mi-li-mét đều đặn!"
Chú Tấn tra trục bơm vào lòng buồng nén lần thứ hai. Người thợ cả cầm cờ-lê quay thử một vòng trục láp.
Trục bơm quay tròn êm ả. Không còn tiếng cọ xát. Độ hở hướng kính giữa mép cánh quạt và thành buồng nén đạt chuẩn đều đặn nửa mi-li-mét.
"Êm ru rồi!" Chú Tấn reo lên, vỗ mạnh vào thân bơm nhôm.
Kíp thợ lập tức siết chặt mười sáu bu-lông hợp kim cố định cụm vòi phun phản lực nước vào khung đuôi xuồng Hải Yến 2. Hai xi-lanh thủy lực điều khiển hướng phụt nước góc nghiêng ba mươi độ được kết nối với cần lái trung tâm trong cabin.
Giang bước vào buồng lái, trực tiếp gạt thử cần lái thủy lực sang trái rồi sang phải. Cặp cánh lái định hướng ở miệng loa phụt ngoặt mượt mà theo từng cử động của tay đòn. Cụm vòi phun này cho phép con tàu quay ngoắt một trăm tám mươi độ ở tốc độ ba mươi hải lý mà không cần bánh lái truyền thống dưới đáy thuyền.
Chú Tấn đứng dưới thềm đá ngắm nghía miệng loa phụt bằng nhôm sáng loáng. Ông lấy giẻ lau quẹt mẩu muội than bám quanh thành ống:
"Vỏ bơm này có pha thêm ba phần trăm ma-giê thu hồi từ nắp hộp số máy bay. Kim loại vừa nhẹ lại vừa chịu được nước mặn biển Đông. Dù ngâm nước mặn cả tháng cũng không sợ bị rỗ tổ ong."
Hệ thống đẩy phản lực nước dã chiến đầu tiên của Hải quân Việt Nam đã hoàn thành lắp ráp ngay trong lòng hang đá vôi.
Năm giờ sáng ngày mùng mười tháng Chạp.
Đại úy Hoàng Văn Nam từ vách đá rạn ngoài trở về xưởng. Anh báo cáo ngắn gọn với Giang và Mai Vy:
"Toán biệt kích SEAL đã rút hoàn toàn ra tàu khu trục Fletcher. Chúng tưởng là vụ sạt lở đá tự nhiên nên không phát hiện ra cửa ngầm. Tuy nhiên, tàu khu trục đối phương vẫn đang thả trôi cách đảo bảy hải lý để canh chừng."
Giang đứng tựa vào mạn xuồng Hải Yến 2. Vỏ composite đen tuyền phản chiếu ánh đèn măng-xông le lói. Anh nắm chặt tay Nam:
"Cảm ơn các đồng chí đã giữ vững trận địa bên ngoài. Cụm vòi phun phản lực nước bên trong này đã xong. Đêm nay, chúng ta sẽ lắp ráp hai quả ngư lôi Lôi Điểu vào bệ phóng!"
Giang mở hòm đạn, lấy ra hai ngòi nổ áp lực bằng đồng thau đặt lên bàn kỹ thuật. Mai Vy lấy thước pan-me đo lại ren khớp nối đầu đạn. Cả phân xưởng bước vào ca chuẩn bị vũ khí quyết định.