Chương 32: Bàn Cờ Đen Ngoài Khơi

Thuộc tiểu thuyết Pháo Đài Phượng Hoàng 1982

Tác giả: · Thể loại: Khoa Huyễn · Đăng ngày · 2059 từ · khoảng 10 phút đọc

Phòng tác chiến thông tin trên soái hạm USS Blue Ridge duy trì nhiệt độ mười tám độ C.

Không gian ngập tràn tiếng máy in ma trận chạy lách cách. Mùi giấy in điện báo mới quyện với mùi cà phê đen đặc. Ánh đèn huỳnh quang xanh lạnh hắt lên các vách thép.

Đại tá Robert Vance đứng thẳng bên bàn tác chiến. Trước mặt ông ta là tập báo cáo kỹ thuật dày hơn bốn mươi trang. Tài liệu vừa được truyền qua máy fax vô tuyến từ căn cứ vịnh Subic.

Trang bìa đóng dấu đỏ tươi ba chữ: *TỐI MẬT - NỘI BỘ HẠM ĐỘI BẢY*.

Vance lật từng trang giấy in than mỏng dính. Các con số giám định thiệt hại của tàu ngầm hạt nhân USS Hammerhead hiện lên chi tiết.

Trục truyền động cánh lái đuôi lệch tâm bảy độ. Sức ép bộc phá nổ trong môi trường nước kín làm kẹt cứng khớp xoay. Hai lá chân vịt bằng đồng-niken bị mẻ mép. Đường ống dẫn phụ của hệ thống tuần hoàn nước làm mát sơ cấp nứt một vệt dài hai mươi lăm phân.

Tàu ngầm đã được lai dắt về ụ cạn. Biên bản ước tính thời gian sửa chữa lò phản ứng kéo dài ít nhất sáu tháng.

Một tàu ngầm tấn công nhanh lớp Sturgeon trị giá hơn hai trăm triệu đô la bị loại khỏi vòng chiến. Vũ khí đánh trúng nó là một quả ngư lôi dã chiến. Tên của nó không có trong danh mục tình báo NATO.

Vance lật sang phần phụ lục giám định vật liệu.

Báo cáo đính kèm ảnh chụp phóng đại các mảnh kim loại thu được quanh bãi cạn Tai Mèo. Chuyên gia luyện kim hải quân tại Subic đã phân tích quang phổ mảnh vỏ ngư lôi găm vào đuôi tàu ngầm.

Kết quả phân tích khẳng định đây là hợp kim titan loại VT6. Vật liệu do Liên Xô sản xuất.

Tuy nhiên, các vết cắt và mối hàn trên mảnh vỡ lại mang dấu ấn thủ công. Kim loại được cắt gọt bằng máy tiện cơ khí cũ kỹ. Bề mặt được tôi ram bằng lò than đá và bể nước muối dã chiến.

Kỳ lạ hơn là khối cảm biến dẫn đường. Đó không phải là mảng gốm áp điện kỹ thuật số PZT hiện đại của hải quân Liên Xô. Khối thu âm gồm các phiến tinh thể thạch anh tự nhiên. Chúng được mài vát theo góc ba mươi lăm độ mười lăm phút. Tinh thể kết hợp với các bóng đèn điện tử chân không thu nhỏ. Mạch tạo thành hệ thống cộng hưởng âm học đơn giản nhưng chuẩn xác ở dải tần số thấp.

Đối phương đã kết hợp linh kiện của hai thời kỳ công nghệ khác nhau. Họ tạo ra một thứ vũ khí sát thương chí mạng.

Viên Trung tá tác chiến bước vào phòng, mang theo cặp da chứa hồ sơ đo sâu:

"Báo cáo Đại tá, chuyên viên DARPA đã nộp bản giải trình về mảng kéo TACTAS."

Vance nhận tập hồ sơ, lật giở các biểu đồ nhiệt độ tầng nước:

"Họ kết luận thế nào về việc tàu Fletcher để mất dấu mục tiêu?"

"Thiết bị mảng kéo sợi quang học hoạt động đúng thông số thiết kế," viên sĩ quan trình bày rành rọt. "Cáp kéo và đầu thu áp điện không bị hỏng. Nguyên nhân nằm ở cấu tạo đáy biển. Đáy hẻm Hòn Én có túi nước nghịch nhiệt cục bộ. Nước ngầm từ các hang đá vôi đùn lên có nhiệt độ mười hai độ C. Nó lạnh hơn mười độ so với tầng nước mặt."

Viên sĩ quan chỉ tay vào đồ thị khúc xạ âm học:

"Khi chiếc xuồng ngắt máy trôi vào đó, chùm sóng quét của mảng kéo bị uốn cong ngược lên trời. Tàu Fletcher mất hoàn toàn điểm tựa âm học để dẫn đường cho pháo hạm."

Vance cầm chiếc bút chì mỡ màu đỏ. Ông ta khoanh một vòng tròn bao quanh khu vực Hòn Én trên tấm hải đồ tác chiến:

"Chiếc xuồng đó còn nguyên vẹn không?"

"Thuyền trưởng tàu Fletcher báo cáo pháo hạm một trăm hai mươi bảy ly đã bắn chặn năm loạt đạn," viên sĩ quan đáp. "Một số mảnh pháo văng trúng mạn thuyền. Nhưng đối phương đã lọt vào âu ngầm trước khi chúng ta kịp bắn loạt hủy diệt."

"Một đối thủ đáng gờm," Vance gật đầu chậm rãi. "Họ nắm rất vững nguyên lý truyền âm trong nước. Họ biết chính xác vị trí túi nước ngầm lạnh. Họ chọn đúng thời điểm ngắt động cơ để chiếc xuồng biến mất."

Vance bước lại chiếc bàn thông tin bảo mật bọc da đen ở góc phòng. Ông ta nhấc ống nghe mã hóa kết nối trực tiếp với sở chỉ huy Hạm đội Bảy tại Yokosuka.

Đầu dây bên kia, Tư lệnh Hạm đội Bảy yêu cầu một giải pháp dứt khoát. Bộ Quốc phòng Mỹ không chấp nhận việc một lực lượng phòng thủ ven bờ vô danh làm tổn thương tàu ngầm hạt nhân của hạm đội.

Vance trình bày quan điểm một cách khúc chiết:

"Thưa Đô đốc, nếu tiếp tục đưa tàu chiến cỡ lớn áp sát hòn đảo, chúng ta chỉ tốn đạn dược. Địa hình đáy biển ở đó dày đặc rạn đá sắc nhọn và dòng nước xoáy nguy hiểm. Địa hình đó triệt tiêu ưu thế của tàu ngầm và tàu tuần dương."

"Vậy kế hoạch của ngài là gì?" Giọng viên Đô đốc vang lên qua loa thoại.

"Kích hoạt chiến dịch Vòng Dây Thép," Vance đáp dứt khoát. "Phong tỏa bóp nghẹt toàn diện."

Mục tiêu cốt lõi của kế hoạch là cắt đứt mọi huyết mạch tiếp tế từ đất liền Hải Phòng ra đảo Phượng Hoàng.

Đảo Phượng Hoàng là khối đá vôi trơ trọi giữa biển Đông. Căn cứ ngầm của đối phương dù tinh vi đến mấy cũng không thể tự sản xuất dầu diesel, than đá luyện kim hay hóa chất composite. Nếu không có nhiên liệu, máy nén khí và động cơ xuồng sẽ nằm bất động. Không có hóa chất và vật liệu, đối phương không thể đúc thêm ống phóng lôi hay vá lại những mảng vỏ thuyền bị vỡ.

Kế hoạch của Vance chia làm hai mũi giáp công:

Mũi thứ nhất trên không trung. Bộ Tư lệnh điều động hai máy bay trinh sát điện tử tầm cao EP-3 Aries từ căn cứ Clark. Những chiếc phi cơ bốn động cơ cánh quạt này trang bị hệ thống quét phổ vô tuyến thụ động ALQ-110 và ăng-ten mảng pha quét nhiệt hồng ngoại. Dưới bụng máy bay là dàn ăng-ten dạng đĩa xoay quét liên tục các tần số cực cao. Phía sau đuôi máy bay lắp cần đo từ trường dị thường MAD để phát hiện các khối hợp kim ngầm. Chúng sẽ luân phiên tuần tra trên vùng trời vịnh Bắc Bộ ở độ cao mười ngàn mét, ghi nhận mọi xung phát xạ vô tuyến hay tín hiệu radar nhỏ nhất phát ra từ hòn đảo.

Mũi thứ hai trên mặt nước. Hạm đội điều động bốn tàu tuần tiễu tên lửa mang cánh ngầm hydrofoil lớp Pegasus cùng hai trực thăng Seasprite. Những chiếc tàu cánh ngầm chạy bằng tuabin khí với vận tốc gần năm mươi hải lý một giờ sẽ chốt chặn các luồng lách qua hòn Hài, Cát Bà và đảo Bạch Long Vĩ. Mọi chuyến thuyền buồm, thuyền gỗ của ngư dân địa phương đều bị rà soát gắt gao.

"Kế hoạch được phê chuẩn," Tư lệnh Hạm đội Bảy đưa ra quyết định sau vài phút cân nhắc. "Toàn quyền điều phối chiến dịch thuộc về ngài."

"Cảm ơn Đô đốc," Vance đáp ngắn gọn rồi gác máy.

Viên Trung tá tác chiến đứng chờ bên cạnh, tay cầm cuốn sổ ghi mệnh lệnh:

"Thưa Đại tá, còn tàu khu trục Fletcher?"

"Rút khỏi hẻm Hòn Én ngay lập tức," Vance ra lệnh. "Cho tàu lùi ra vùng biển sâu mười lăm hải lý. Bắt đầu tiếp dầu và nhận thêm đạn pháo phân mảnh từ tàu hậu cần Shasta."

"Còn các tàu cánh ngầm Pegasus?"

"Xuất kích lúc bốn giờ sáng mai."

"Mục tiêu là các thuyền buồm dân sự sao?"

"Chặn mọi phương tiện nổi tiếp cận đảo," Vance nhấn mạnh từng từ. "Bất kể thuyền gỗ hay thuyền nan. Kiểm tra kỹ khoang thuyền. Tịch thu toàn bộ nhiên liệu, than đá và linh kiện kim loại."

"Rõ, thưa Đại tá!" Viên sĩ quan tác chiến giơ tay chào rồi bước nhanh ra cửa.

Vance bước lại bàn trinh sát quang điện tử. Hai kỹ sư radar đang phân tích các bức ảnh nhiệt hồng ngoại chụp từ vệ tinh đêm trước.

"Có phát hiện vệt nhiệt nào từ căn cứ ngầm không?" Vance hỏi.

Viên kỹ sư trưởng chỉnh núm xoay độ tương phản nhiệt:

"Địa hình đá vôi ở đảo Phượng Hoàng rất dày. Vách đá che chắn gần như toàn bộ bức xạ nhiệt từ các xưởng cơ khí bên trong."

"Nhưng họ không thể bịt kín mọi lỗ thông hơi," Vance gõ ngón tay lên màn hình. "Động cơ diesel ba ngàn mã lực và các lò rèn titan dã chiến cần lượng không khí khổng lồ. Họ bắt buộc phải xả khí thải qua các kẽ nứt tự nhiên trên vách núi."

Viên kỹ sư gật đầu:

"Tôi hiểu ý ngài. Khí thải nóng sẽ tạo ra gradien nhiệt độ rất rõ giữa mùa đông."

"Chính xác," Vance hạ giọng. "Rạng sáng là thời điểm nhiệt độ không khí ngoài trời xuống thấp nhất. Hãy lập trình cho camera hồng ngoại FLIR trên trực thăng Seasprite quét dọc các vách đá dựng đứng phía bắc đảo. Tìm kiếm những luồng khí nóng từ ba mươi lăm đến bốn mươi độ C đùn ra từ khe đá. Đó chính là cửa thông gió của xưởng ngầm."

"Tuân lệnh Đại tá. Chúng tôi sẽ nạp tham số quét vào bộ nhớ máy bay ngay bây giờ."

Căn phòng tác chiến trở lại bầu không khí tĩnh lặng. Tiếng máy in ma trận vẫn đều đặn nhả ra từng dòng dữ liệu tuần tra của máy bay trinh sát.

Vance bước lại phía ô cửa kính dày bọc thép của đài chỉ huy.

Ngoài khơi xa, màn đêm đen đặc bao trùm lấy mặt biển. Gió mùa đông bắc rít từng cơn lạnh buốt qua các dàn radar xoay tròn trên nóc tháp.

Trên sàn đáp đuôi tàu, lính kỹ thuật đang tiếp dầu cho trực thăng tuần tiễu. Tiếng cánh quạt chém gió rù rì bắt đầu rền vang trong sương đêm.

Vance kéo tấm bản đồ không ảnh xuống. Ảnh chụp từ vệ tinh hiện ra trước mặt. Trên ảnh phóng đại, những luồng tàu thuyền đánh cá bằng buồm nan thô sơ của ngư dân ven biển hiện lên như những chấm li ti nối từ đất liền ra các hòn đảo tiền tiêu. Ông ta cầm chiếc bút đỏ gạch chéo từng luồng lách ven bờ.

Trận chiến thực sự giờ mới bắt đầu. Đối thủ của ông ta trên hòn đảo tiền tiêu kia đã giành thắng lợi trong đòn phục kích bất ngờ. Nhưng chiến tranh không chỉ định đoạt bằng một trận đánh dã chiến. Nó là sự thử thách nghiệt ngã về sức chịu đựng và nguồn lực hậu cần.

Khi những giọt dầu diesel cuối cùng cạn kiệt trong các thùng phuy, căn cứ ngầm trong lòng đá vôi sẽ phải phơi bày trước mắt ông ta.

Vance bật lửa. Ánh kim loại bập bùng trong bóng tối. Ông ta phả làn khói mỏng vào màn đêm, ánh mắt gắn chặt vào chấm xanh nhấp nháy của đảo Phượng Hoàng trên màn hình radar tầm xa. Đầu ngón tay ông ta khẽ gõ nhẹ xuống mặt kính hải đồ theo từng nhịp quét của chùm sóng vô tuyến. Bàn cờ phong tỏa trên biển Đông đã chính thức siết chặt những nước đi lạnh lùng đầu tiên.