Chương 78: Khóa Mục Tiêu Dưới Đáy Biển
Thuộc tiểu thuyết Pháo Đài Phượng Hoàng 1982
Tác giả: Hà Tinh Vân · Thể loại: Khoa Huyễn · Đăng ngày · 2045 từ · khoảng 10 phút đọc
Mười sáu giờ ba mươi phút chiều ngày 16 tháng 4 năm 1982, cuộc săn đuổi dưới đáy rãnh biển Cồn Cỏ bước vào thời khắc quyết định.
Vùng biển này là một trong những hẻm vực thủy văn phức tạp nhất bờ biển miền Trung. Ở tầng nước nông từ mặt biển xuống 45 mét, nhiệt độ nước đạt 26 độ C. Dòng chảy bề mặt chảy xuôi theo hướng nam. Nhưng khi vượt qua tầng nghịch nhiệt ở độ sâu 70 mét, nhiệt độ tụt thẳng xuống 15 độ C. Đáy biển ở độ sâu 95 mét là một rãnh đá bazan hẹp. Hai bên rãnh là những vách đá hoa cương dựng đứng. Cấu trúc địa hình này tạo thành một đường hầm dẫn truyền âm thanh tự nhiên. Tiếng chân vịt có thể vang xa gấp 3 lần bình thường.
Dưới độ sâu 95 mét, chiếc tàu ngầm hạt nhân USS Hammerhead tăng tốc lên 16 hải lý/giờ. Thân tàu thép nặng gần 5.000 tấn rẽ nước lao đi. Bánh lái đuôi hình chữ thập để lại một luồng nước xoáy dài hàng trăm mét.
Tàu ngầm đối phương mải miết đuổi theo tín hiệu âm thanh của thùng mồi nhử M-82 đang trôi dạt phía trước. Trong màn hình hiện sóng của chiếc Hammerhead, dải tần 48 héc của chiếc bẫy âm học vẫn đập liên hồi.
David Stone không hề hay biết rằng, ngay sau lưng chiếc tàu ngầm của hắn, một mối hiểm họa đang bám sát từng mét nước.
Con tàu titan Phượng Hoàng Đen trượt đi trong tĩnh lặng. Động cơ phản lực nước pump-jet không hề tạo ra bọt khí chân vịt. Con tàu lọt trọn vào vùng rẻ quạt 30 độ ngay phía sau đuôi tàu ngầm Mỹ. Đây là góc mù thủy âm kinh điển của mọi lớp tàu ngầm hạt nhân thời kỳ đó. Tiếng rít gầm xé nước của chính cụm chân vịt 7 lá tàu Hammerhead đã che lấp hoàn toàn mọi âm thanh phía sau lưng nó.
"Khoảng cách 1.100 mét," Tuấn nói khẽ, hai tay giữ chắc cần lái chữ X. Mắt anh dán chặt vào mặt đồng hồ cự ly. "Góc tà đuôi 0 độ. Tàu ta đang nằm chính xác trên tim đường bọt nước của nó."
"Tốt lắm," Trần Hải Giang đứng sau lưng Tuấn, giọng anh trầm chắc. "Giữ nguyên cự ly này. Không vượt quá 1.000 mét để tránh vướng vào dòng nước xoáy đuôi của nó."
Anh quay sang nhìn Hai Thuận và Lâm.
Trong khoang máy hẹp, không khí căng thẳng. Nhiệt độ buồng lái giữ ở mức 26 độ C. Hai Thuận dùng chiếc cờ-lê mười chín siết chặt van khóa đường khí nén của bình tích áp 200 át-mốt-phe. Trên trán người thợ cả Ba Son, từng giọt mồ hôi chảy dài qua gò má. Tay ông vẫn giữ chặt mỏ cờ-lê không hề run rẩy.
"Áp suất buồng phóng số 1 đạt 9,5 át-mốt-phe, cân bằng với áp lực nước ngoài vỏ," Hai Thuận báo cáo, giọng nhỏ nhẹ nhưng rành rọt. "Khóa an toàn quả lôi 53-65KE đã mở chốt cơ khí số 3. Mạch sấy pin tự dẫn đã kích hoạt."
Kỹ sư Lâm cúi rạp người trên bảng nạp phần tử bắn cơ khí. Đây là hệ thống tính toán góc tà do Mai Vy và tổ điện tử căn cứ đảo Phượng Hoàng cải tiến. Chiếc máy tính cơ khí gồm hàng chục bánh răng hành tinh bằng đồng thau ăn khớp với trục quay của la bàn con quay hồi chuyển thạch anh.
"Mục tiêu đang giữ hướng 215 độ," Lâm vừa xoay chiếc núm vi chỉnh vừa đọc thông số. "Tốc độ mục tiêu 16 hải lý/giờ. Góc mạn 0 độ. Đầu dò thủy âm bám vệt bọt khí của quả lôi đã bắt được độ đục quang học và nồng độ bọt khí của chân vịt Hammerhead!"
Để hoàn thiện được đầu tự dẫn bám vệt nước này, Mai Vy đã mất hàng tuần lễ tính toán tại xưởng ngầm K-82. Khác với ngư lôi thông thường nghe tiếng chân vịt, đầu dò quang điện tử của quả đạn 53-65KE sử dụng 2 chùm tia hồng ngoại chiếu qua làn nước. Mạch điện trở quang sẽ kích hoạt cánh lái bẻ hướng theo tim luồng xoáy khi mật độ bọt khí đạt mức tiêu chuẩn. Kẻ thù dù có thả bao nhiêu pháo sáng âm học hay mồi bẫy gây nhiễu thì vệt bọt khí thực thể của một con tàu 5.000 tấn vẫn không thể nào xóa bỏ được.
Tại khoang phóng lôi phía mũi tàu, một chiến sĩ thợ máy trẻ đang cẩn thận rà soát từng đường ống dẫn dầu thủy lực. Các rãnh trượt bằng đồng bên trong ống phóng đường kính 533mm đã được quét một lớp mỡ chì graphite mỏng. Lớp mỡ này giúp triệt tiêu ma sát kim loại khi quả đạn trượt ra ngoài. Nó ngăn ngừa tia lửa cơ học và tiếng rít kim loại.
Trong khi đó, bên trong thân vỏ tàu ngầm USS Hammerhead cách đó hơn 1.000 mét, David Stone vẫn đứng trước bàn hải đồ tác chiến.
Viên hạm trưởng người Mỹ cầm cây bút chì gõ nhịp lên mặt bàn kính:
"Sĩ quan vũ khí, kiểm tra lại tham số ngắm bắn của 2 quả ngư lôi Mk 48 ở ống phóng số 1 và số 2. Sau khi tiêu diệt chiếc tàu ngầm diesel này, chúng ta sẽ lập tức quay mũi lên hướng bắc để săn đuổi đoàn tàu vận tải."
"Rõ, thưa Trung tá," viên sĩ quan vũ khí đáp lời. "Ngư lôi Mk 48 đã sẵn sàng mở nắp ngoài. Dây dẫn điều khiển đang kết nối thông suốt với máy tính hỏa lực Mk 117."
Nhưng đúng lúc sự tự tin của David Stone lên tới đỉnh điểm, chiếc thùng mồi nhử M-82 phía trước bắt đầu cạn nguồn.
Chiếc hộp thép hình thoi M-82 sau hơn 20 phút hoạt động liên tục dưới độ sâu 95 mét đã tiêu hao phần lớn điện năng của bình ắc quy chì 24V. Áp suất nước biển cực lớn ép nhẹ vào thành vỏ kim loại, làm biến dạng tiếp điểm của rơ-le cơ khí. Tiếng gõ "cạch... cạch..." giả lập van xả đột nhiên bị kẹt lại. Âm thanh chân vịt 5 lá mô phỏng ngắt quãng rồi im bặt.
Trong khoang tác chiến của tàu Hammerhead, viên trắc thủ sonar Mỹ giật thót mình. Hắn đập mạnh hai tay vào chiếc tai nghe:
"Mất tín hiệu! Mục tiêu mạn trái đột ngột biến mất trên màn hình hiện sóng!"
Khuôn mặt David Stone đanh lại. Hắn bước xộc tới bàn sonar, giật lấy chiếc tai nghe của thuộc cấp:
"Mất tín hiệu là thế nào? Một chiếc tàu ngầm diesel nặng hàng ngàn tấn không thể bốc hơi trong 1 giây được!"
Stone áp tai nghe vào ống thu. Chỉ có tiếng xào xạc của dòng hải lưu lạnh buốt. Không có tiếng máy nổ. Không có tiếng rít chân vịt.
Chỉ mất đúng 3 giây, kinh nghiệm của một hạm trưởng tàu ngầm kỳ cựu đã gióng lên một hồi chuông cảnh báo sau gáy David Stone.
"Mồi bẫy âm học!" Stone hét lớn, mặt hắn trắng bệch ra. "Chúng ta bị lừa rồi! Chiếc tàu ngầm thật của đối phương không ở phía trước! Nó đang ở ngay phía sau chúng ta!"
Viên sĩ quan tác chiến tái mặt, luống cuống ấn chuông báo động chiến đấu:
"Báo động đỏ! Toàn tàu chuẩn bị va chạm!"
"Bẻ hết lái sang phải! Hướng 045 độ! Tăng tốc tối đa lên 22 hải lý/giờ! Xả khí két dằn khẩn cấp!"
Mệnh lệnh của Stone vang rền qua hệ thống loa chỉ huy của tàu Mỹ.
Chiếc tàu ngầm hạt nhân khổng lồ rùng mình. Động cơ tuốc-bin hơi nước gầm lên. Bánh lái đuôi bẻ ngoặt sang phải, cố gắng văng đuôi tàu ra khỏi trục hành trình cũ để tìm cách thoát khỏi góc chết thủy âm.
Thế nhưng, mọi tính toán tháo chạy của David Stone đã muộn.
Trên màn hình sonar của Phượng Hoàng Đen, kỹ sư Lâm nhìn thấy luồng chân vịt của Hammerhead đột ngột cuộn lên dữ dội:
"Nó phát hiện ra rồi! Nó đang bẻ lái khẩn cấp sang phải để thoát ly!"
Trần Hải Giang không chần chừ dù chỉ một nhịp thở. Cơ hội chiến thuật đã mở ra ngay trước mũi tàu.
"Mục tiêu đã đổi hướng! Góc đón lôi 15 độ!" Giang gạt phắt cần phát hỏa, tiếng hô đanh gọn xé tan bầu không khí nén chặt trong khoang điều khiển:
"Ống phóng số 1... Phóng!"
*Xì... Ầm!*
Một tiếng nổ áp lực trầm đục rung chuyển toàn bộ sống lườn titan của Phượng Hoàng Đen. Van khí nén cao áp mở tung trong nửa giây, tống khối nước áp lực cực mạnh đẩy quả ngư lôi 53-65KE ra khỏi miệng ống thép đường kính 533mm.
Quả ngư lôi nặng gần 2 tấn trượt ra khỏi mũi tàu ngầm. Động cơ turbine nhiệt sử dụng nhiên liệu dầu hỏa và oxy lỏng lập tức khởi động dưới đáy biển sâu.
Hai chân vịt đồng trục quay ngược chiều của quả ngư lôi lao đi với tốc độ 45 hải lý/giờ.
Khác với các loại ngư lôi tự dẫn thủy âm thông thường rất dễ bị đánh lừa bởi mồi bẫy pháo sáng âm thanh, quả ngư lôi 53-65KE là sát thủ bám vệt nước chân vịt. Hai cảm biến thủy âm quang học gắn ở chóp mũi quả đạn liên tục đo mật độ bọt khí li ti trong dòng nước.
Ở độ sâu 95 mét, cụm chân vịt 7 lá của tàu hạt nhân Hammerhead đang quay cuồng với công suất tối đa để bẻ lái. Cụm chân vịt để lại phía sau một vệt bọt khí rộng hàng chục mét kéo dài tít tắp.
Đó chính là con đường dẫn lối không thể trốn chạy.
Đầu tự dẫn của quả đạn 53-65KE lập tức bắt trúng vệt bọt khí đậm đặc. Cánh lái đuôi quả lôi tự động chuyển động zíc-zắc, lượn qua lượn lại giữa hai mép của vệt nước xoáy, bám chặt lấy đuôi tàu ngầm Mỹ trong lòng đại dương.
Khoảng cách thu hẹp với tốc độ chóng mặt: 800 mét... 500 mét... 300 mét...
Trong khoang điều khiển Phượng Hoàng Đen, Tuấn và Hai Thuận nín thở nghe tiếng rít của quả lôi truyền qua mạn tàu. Kim đồng hồ am-pe kế nhích nhẹ khi tàu chuyển sang chế độ lùi một nấc để triệt tiêu lực giật lùi sau phát bắn.
"Khóa mục tiêu thành công!" Lâm siết chặt hai nắm tay, mắt không rời vệt sáng trên màn hình thạch anh. "Ngư lôi của ta đang lao thẳng vào trục chân vịt của nó!"
Hai Thuận nhanh tay đóng van cấp khí nén và mở van thông khí buồng phóng để hút nước ngược vào két dằn phụ. Trọng lượng tàu lập tức cân bằng trở lại, mũi tàu không hề bị ngửa lên. Dưới sàn khoang máy số 2, từng giọt mồ hôi của người thợ già rơi xuống tấm lót sàn cao su cách điện.
Trần Hải Giang đứng thẳng người bên bục chỉ huy, ngón tay anh chạm vào bề mặt thép thô ráp của chiếc đồng hồ đo sâu cơ khí. Dưới tầng nước lạnh sâu gần 100 mét, quả ngư lôi mang công sức của xưởng máy đất Cảng và bàn tay người thợ Ba Son đang lao đi với quỹ đạo không thể cản phá. Hai Thuận cầm chiếc giẻ lau khô tay dính dầu mỡ, chăm chú nhìn từng vạch chia áp suất trên bảng điều khiển thủy lực. Dòng nước ngầm ngoài vỏ tàu vẫn cuộn chảy ầm ào qua vách titan. Ở khoang âm thanh, tiếng tích tắc nhịp nhàng của máy đo độ sâu vang lên đều đặn giữa không gian nén chặt của lòng biển khơi. Mọi giác quan của kíp thủy thủ căng ra trên từng hải lý rẽ sóng.