Chương 83: Cơn Thịnh Nộ Ở Subic

Thuộc tiểu thuyết Pháo Đài Phượng Hoàng 1982

Tác giả: · Thể loại: Khoa Huyễn · Đăng ngày · 2128 từ · khoảng 11 phút đọc

10:00 sáng ngày 22 tháng 4 năm 1982, cái nóng nhiệt đới bao trùm vịnh Subic.

Nắng gắt đổ xuống mặt biển. Vịnh Subic nằm ở bờ tây đảo Luzon. Những chiếc cần cẩu giàn khổng lồ sơn màu vàng cam in bóng sừng sững xuống làn nước sâu. Tiếng còi hơi của tàu kéo hụ vang. Từng hồi còi kéo dài trên mặt vịnh. Khói đen từ ống xả tàu tuần dương bốc lên cao. Bầu trời xanh ngắt không một gợn mây.

Tại ụ nổi sửa chữa AFDB-1 ở góc đông bắc quân cảng, tàu ngầm hạt nhân tấn công USS Hammerhead vừa được đưa lên giá đỡ.

Hàng chục kỹ sư công binh hải quân Mỹ bu quanh đuôi tàu. Thợ đóng tàu bản địa mặc đồ bảo hộ xám tro. Con tàu nặng 5.000 tấn lộ ra khỏi mặt nước. Dưới nắng trưa, mùi sơn chống rỉ bốc lên nồng nặc. Mùi rong rêu khô khốc bám đầy vỏ thép HY-80. Từng mảng ngói cao su hấp thụ âm anechoic tile bị sóng chấn động giật đứt. Vỏ tàu nham nhở như da một con cá voi trúng thương.

Đại tá Robert Vance đứng trên sàn quan sát. Sàn kim loại của ụ nổi rung nhẹ theo nhịp máy nén khí. Chiếc mũ lưỡi trai sĩ quan viền chỉ vàng che khuất vầng trán nhăn lại. Ông là người đứng đầu Nhóm Tác chiến Đặc nhiệm phương Tây. Tay ông cầm tập hồ sơ dán nhãn tuyệt mật.

Bên cạnh ông, Trung tá David Stone đứng im lìm. Cánh tay phải của David Stone được treo bằng dải băng vải trắng. Hắn bị chấn thương trật khớp vai. Mặt hắn tái mét. Hắn hốc hác sau 4 ngày tháo chạy khỏi vùng biển miền Trung.

Vance nhìn xuống tập tài liệu kỹ thuật. Giọng ông khô khốc:

"Cắt bỏ giàn sonar mảng kéo TB-16 trị giá 4 triệu đô-la. Để tàu ngầm đối phương bẻ gãy cánh lái đuôi. Cậu giải thích thế nào trước Hội đồng Tham mưu trưởng đây, Stone?"

David Stone nuốt khan. Cổ họng hắn đắng ngắt:

"Thưa Đại tá, chúng tôi không hề chạm trán với tàu ngầm Victor hay Charlie của Liên Xô. Chữ ký âm học hoàn toàn khác biệt."

"Khác biệt thế nào?" Vance hỏi dồn.

"Nó là một tàu ngầm mini," David Stone chỉ tay xuống hốc máy đuôi tàu đang được thợ máy dùng mỏ hàn xì tháo dỡ. "Thân tàu dài không quá 40 mét. Vỏ ngoài làm bằng hợp kim titan đặc biệt. Bề mặt nhẵn bóng không hề phản hồi xung sonar chủ động BQS-13 của ta."

"Còn quả ngư lôi thì sao?" Vance gặng hỏi.

"Là ngư lôi 53-65KE bám vệt nước chân vịt," Stone rùng mình nhớ lại. "Nó không thu tiếng ồn động cơ. Nó bám theo vệt bọt khí của cụm chân vịt 7 lá. Bốn quả mồi bẫy âm học Mk 70 bị vô hiệu hóa. Nếu tôi không cắt cáp mảng kéo và thổi két dằn ngoi lên tầng nước nông, đầu đạn 300 kilôgam đã kích nổ thẳng vào khoang tuốc-bin. Con tàu này đã chìm ở đáy vực 150 mét rồi!"

Vance im lặng một lát. Ông bước xuống thang sắt. Hai người đi tới gầm bệ đỡ trục chân vịt.

Khối thép cánh lái phụ mạn phải bị sóng xung kích bẻ cong một góc 18 độ. Các vết nứt kim loại rạn dài dọc theo mép bản lề thủy lực. Đầu cáp mảng kéo TB-16 đường kính 50 milimét bị chém đứt nham nhở. Các sợi dây cáp đồng và ống dẫn quang học tưa ra như búi giẻ rách.

Một kỹ sư trưởng công binh bước lại gần. Tay anh ta cầm chiếc thước kẹp kim loại báo cáo tình trạng kỹ thuật:

"Báo cáo Đại tá, trục chân vịt chính bị lệch tâm 2,5 milimét. Vỏ khoang máy phụ bị biến dạng do áp lực nổ. Chúng tôi phải mất 6 tuần trên ụ khô để cân chỉnh trục. Cụm cánh lái đuôi phải thay mới."

"Còn giàn cáp mảng kéo?" Vance hỏi ngắn gọn.

"Cáp TB-16 mới phải chuyển bằng máy bay vận tải C-5 Galaxy từ căn cứ San Diego sang," viên kỹ sư đáp.

Vance phất tay ra hiệu:

"Tiến hành công việc ngay. Từng giờ nằm ụ của con tàu này đều làm giảm uy thế của Hạm đội 7."

Nói xong, ông dẫn David Stone bước nhanh về phía boong-ke tác chiến trung tâm.

Mười lăm phút sau, hai người có mặt trong phòng chỉ huy tác chiến của Căn cứ Subic.

Căn phòng lắp máy điều hòa nhiệt độ chạy rì rầm. Không khí mát lạnh xua tan cái nóng oi ả bên ngoài. Trên bức tường lớn treo tấm hải đồ Biển Đông. Kích thước tấm bản đồ rộng 3 mét nhân 4 mét. Hàng trăm ký hiệu xanh đỏ đánh dấu các tuyến vận tải và vùng kiểm soát của Hạm đội 7. Những ngọn đèn rọi chiếu sáng từng tọa độ rãnh ngầm từ đảo Hải Nam xuống tới eo biển Malacca.

Viên trung úy chuyên viên âm học cẩn thận đặt cuộn băng từ 1 inch vào đầu đọc máy phân tích AN/BQR-21. Băng từ quay đều qua đầu từ kim loại.

Tiếng rè rè của sóng âm vang lên qua loa kiểm âm. Xen lẫn trong tiếng sóng ngầm là tiếng nổ áp lực trầm đục của quả ngư lôi. Tiếp theo đó là một chuỗi xung cơ khí rất lạ lẫm.

Đó không phải tiếng rít của tuốc-bin hạt nhân. Đó là nhịp chuyển động êm ả của động cơ điện một chiều. Tiếng bọt nước trôi qua cánh lái chữ X rất khẽ. Không có tiếng gõ rít của bơm tuần hoàn. Cả thân tàu đối phương như hòa tan vào tiếng ồn tự nhiên của đại dương.

"Dừng lại ở giây thứ 45!" Vance giơ tay ra lệnh.

Chiếc máy ghi âm dừng lại ngay lập tức. Vance bước lại máy vẽ đồ thị tần số. Cây kim ghi dao động trên dải giấy than. Đường dao động phổ âm hiện lên trên mặt giấy than với những đỉnh sóng rất thấp:

"Không có tiếng ồn máy bơm làm mát. Không có tiếng gõ kim loại của hộp số giảm tốc. Độ ồn của nó dưới 95 đề-xi-ben ở tốc độ 4 hải lý/giờ. Chiếc tàu này bơi êm như một cái bóng ma dưới đáy rãnh đá bazan."

Viên chuyên viên âm học gật đầu xác nhận:

"Thưa Đại tá, dải tần từ 10 Hz đến 50 Hz hoàn toàn sạch sẽ. Chúng tôi chỉ phát hiện được nó khi quả ngư lôi 53-65KE bắt đầu kích hoạt động cơ đẩy phụt khí."

David Stone đứng bên cạnh, dè dặt lên tiếng:

"Liệu có phải tàu ngầm ngụy trang của Liên Xô ở Cam Ranh không thưa Đại tá?"

"Không thể nào," Vance lắc đầu dứt khoát. "Vệ tinh KH-11 giám sát Cam Ranh suốt ngày đêm. Toàn bộ tàu ngầm lớp Foxtrot của họ đều nằm nguyên tại bến. Hơn nữa, tàu ngầm Liên Xô chưa từng trang bị cánh lái đuôi chữ X nhỏ gọn thế này."

Vance rút một điếu xì-gà châm lửa. Khói thuốc thơm nồng bay lên che khuất gương mặt đăm chiêu:

"Nó xuất phát từ một hòn đảo tiền tiêu trong vịnh Bắc Bộ. Chính là căn cứ ngầm mà người phụ nữ mang mật danh Chim Nhạn và tên sĩ quan Trần Hải Giang đang xây dựng."

David Stone lắc đầu không tin:

"Họ vừa bước ra khỏi chiến tranh. Công nghiệp còn thiếu từng bao xi măng. Làm sao họ tự đóng được tàu ngầm titan như vậy?"

"Đừng bao giờ coi thường đối thủ, Stone," Vance gằn giọng, gõ đầu điếu xì-gà xuống gạt tàn pha-lê. "Sự chủ quan trước đó đã khiến toàn bộ 64 phao thủy âm DIFAR bị đánh lừa bởi mồi bẫy M-82. Tàu ngầm của họ đã hộ tống 4 tàu hàng vượt qua vĩ tuyến 16 an toàn. Cấu kiện công sự và pháo phòng không đã chuyển lên đảo Trường Sa. Chiến dịch ngăn chặn giai đoạn một của chúng ta đã thất bại."

"Vậy chúng ta sẽ làm gì tiếp theo?" Stone hỏi dồn.

Vance cầm cây bút chì mỡ màu đỏ. Ông vạch một vòng tròn khép kín quanh vịnh Bắc Bộ:

"USS Hammerhead sẽ nằm ụ 6 tuần. Nhưng chúng ta không ngồi yên. Tôi điều động phi đoàn tuần thám biển số 4 từ căn cứ không quân Clark. Mỗi ngày sẽ có 3 lượt bay của máy bay săn ngầm P-3C Orion tuần tra dọc ranh giới lãnh hải."

Ông gõ đầu bút chì vào dải biển ngoài khơi:

"Lần này không chỉ thả phao thủy âm nữa. Các máy bay P-3C sẽ trang bị đầu dò dị thường từ tính AN/ASQ-81 MAD thế hệ mới nhất. Thiết bị gắn ở đuôi máy bay. Tàu của họ có thể tàng hình trước sóng âm. Nhưng một khối kim loại chuyển động trong lòng biển sẽ làm biến thiên từ trường trái đất."

David Stone sáng mắt ra:

"Đầu dò MAD sẽ phát hiện ra chúng ngay cả khi chúng tắt máy thả trôi!"

"Chính xác," Vance cười lạnh lùng. "Máy bay sẽ bay thấp ở độ cao 60 mét sát ngọn sóng. Độ nhạy của cần dò từ tính AN/ASQ-81 đạt tới một phần mười gam-ma. Dù vỏ titan có tính từ thấp, sự chuyển động của con tàu trong nước mặn vẫn gây nhiễu loạn địa từ trường."

David Stone gật đầu tán thành:

"Phi công phi đoàn VP-40 tại căn cứ Cubi Point đều là những tay bay lão luyện. Họ có thể quét từng mét vuông mặt nước."

"Không chỉ có thế," Vance chỉ tay sang góc bản đồ. "Tôi đã yêu cầu điều thêm một tàu trinh sát điện tử lớp AGER thả neo ngoài khơi đảo Hải Nam. Chúng ta sẽ quét sạch mọi tần số sóng vô tuyến cực dài VLF. Mọi bức điện ngầm của họ đều sẽ bị chặn thu."

Stone nhìn vị chỉ huy của mình, hỏi thêm:

"Còn kíp tàu Hammerhead thì sao thưa Đại tá?"

"Các cậu có 4 tuần để hồi phục thể lực và huấn luyện chiến thuật mới," Vance đáp dứt khoát. "Sau khi thay cụm cánh lái đuôi và lắp cáp sonar mảng kéo TB-16 mới, Hammerhead sẽ quay lại vùng biển miền Trung. Lần này chúng ta không đi săn một mình. Sẽ có sự bọc lót của 2 tàu khu trục Spruance và phi đội săn ngầm đường không."

Viên sĩ quan tham mưu bước vào phòng. Anh ta đứng nghiêm nhận lệnh:

"Phát điện khẩn cho sân bay Clark và căn cứ Cubi Point. Đúng 06:00 sáng mai, thiết lập vùng quét từ tính dọc vĩ tuyến 17. Bất kỳ dấu hiệu dị thường nào dưới 50 mét nước đều phải đánh dấu tọa độ ngay."

"Rõ, thưa Đại tá!"

Viên sĩ quan dập gót chân rồi rời đi.

Vance bước lại bên cửa sổ kính bọc thép. Ông nhìn xuống mặt vịnh Subic lấp loáng ánh nắng trưa. Những chiếc tàu chiến xám xịt của Hạm đội 7 nằm san sát nhau bên các cầu cảng bê tông kiên cố. Tiếng búa gõ đe dội lại từng hồi nặng nề. Tiếng máy cắt kim loại của ụ nổi AFDB-1 rít lên đanh thép. Tiếng xe jeep tuần tra rồ ga dưới sân bê tông kéo theo luồng bụi mờ trong nắng trưa Subic.

David Stone xoa nhẹ bên vai bị thương. Hắn hiểu rằng cuộc đối đầu ngầm chưa hề kết thúc. Phía sau bức màn sương mù của vịnh Bắc Bộ, chiếc tàu ngầm titan của đối phương chắc chắn đang được chuẩn bị cho những trận đánh mới. Cuộc săn lùng con tàu titan của Việt Nam đã bắt đầu điểm giờ xuất kích. Ván cờ địa chính trị trên biển Đông chính thức bước vào nấc thang nghẹt thở mới. Cả bầu trời và lòng biển chuẩn bị rung chuyển trước cuộc đọ sức sinh tử giữa công nghệ săn ngầm tối tân của phương Tây và ý chí kiên cường của người lính đảo. Kế hoạch đã vạch sẵn. Subic bước vào trạng thái báo động cao độ. Mọi con mắt của tình báo hải quân Mỹ đều đổ dồn về dải biển miền Trung đầy sóng gió. Kíp trực tác chiến khẩn trương ghi chép các mệnh lệnh mới vào nhật ký hành quân. Biển sâu chuẩn bị bước vào một cơn bão táp ngầm không tiếng động.