Chương 2: Vệt tím trên ngực áo hạ xá
Thuộc tiểu thuyết Tấm Khánh Đá Không Chịu Ngân
Tác giả: Trần Vũ Phong · Thể loại: Huyền Huyễn · Đăng ngày · 2069 từ · khoảng 10 phút đọc
Rạng mồng Tám tháng Chạp, tiếng gió rít qua vách hở của nhà kho củi xé toạc giấc ngủ. Nguyễn Trác mở mắt. Bóng tối trong kho vẫn đặc, chỉ có ánh trăng cuối tháng lọt qua khe ván, rọi lên những chồng củi xếp cao quá đầu người. Hắn khẽ cựa mình. Cơn đau từ giữa ngực truyền ra, buốt tới sau lưng. Chiều qua hắn ăn trọn một chưởng của Đàm Chí Thành.
Trác ngồi dậy, lần tay vào trong vạt áo hạ xá vá víu. Dưới làn da mỏng, vệt đỏ hình bàn tay ba đốt đêm qua nay đã chuyển sang màu tím thẫm. Nó không sưng, nhưng mỗi khi hắn hít sâu, chỗ xương ức lại nhói lên một nhịp. Vệt tím này chắc chắn sẽ còn nằm lì trên ngực hắn nhiều ngày nữa mới chịu tan.
Hắn bước ra khỏi kho. Trời chưa sáng, sương muối phủ một lớp trắng mờ trên mái hiên và trên nền sân gạch. Những nong dược đã được úp chồng cẩn thận dưới mái từ chiều qua để tránh hỏng thuốc. Việc đầu tiên của hạ xá mỗi sớm là nhóm lại ba cái lò sấy trước khi cụ Đàn thức giấc.
Trác đến bên lò đá ong đầu tiên. Hắn cúi người, dùng thanh củi sắt cời lớp tro xám ở cửa lò. Than bên trong vẫn còn đượm, tỏa ra những đốm đỏ nhỏ như mắt mèo. Hắn gác thêm hai thanh củi khô vào giữa, lửa bắt hơi nóng lập tức liếm lên lớp vỏ gỗ.
Hắn bước sang lò thứ hai. Lò này đã tắt ngóm từ nửa đêm, lòng lò lạnh ngắt. Trác phải quỳ sống, vốc một nắm dăm bào đổ vào giữa rồi đánh lửa. Mùi khói dăm bào hăng hắc xộc thẳng vào mũi khi ngọn lửa bắt đầu bén. Hắn phải kiên nhẫn chờ cho lửa ăn chắc vào mồi mới dám xếp củi nhỏ lên trên.
Ở lò thứ ba, khói tỏa ra mù mịt nhưng lửa không bốc. Trác ghé mắt nhìn, phát hiện cửa gió bị lá tùng khô rụng xuống bít mất một nửa. Hắn luồn bàn tay vào khe hở, cảm nhận rõ luồng hơi lạnh kẹt lại bên ngoài không thể tràn vào trong lò. Hắn dùng thanh sắt thông sạch lớp lá mục, cào từng mảng lá ướt đẫm sương ra khỏi miệng gió. Mùi khói khét lẹt xộc vào mũi, không phải mùi thơm nồng của củi khô mà là mùi ngai ngái của lá mục bị hun nóng. Hơi nóng đang dồn về một góc vách. Trác đặt tay lên vỏ lò: bên trái rát, bên phải còn nguội. Hắn xoay lại mấy thanh củi to cho lửa ăn sang phía kia.
Trong đống vừa dỡ có một thanh bị mối đục rỗng ruột. Hắn cầm lên, nhẹ hẫng, bóp một cái là mủn ra ở đầu ngón. Thứ ấy bỏ vào chỉ tổ hạ lửa. Hắn để riêng sang một bên.
Ba miệng lò bắt đầu tỏa đều.
Xong việc, Trác không vào nhà. Hắn đi vòng ra khoảng sân nhỏ phía sau khu lò sấy. Đây là chỗ khuất, ngăn cách với giảng đường bằng một bờ rào mướp khô héo. Hắn đứng lại giữa sân, nhìn xuống đôi bàn tay mình. Hắn muốn thử lại cái thứ mà hắn đã thấy trong bóng tối đêm qua.
Trác đứng chân trước chân sau, gót chân bám chặt lấy nền đất nện. Hắn hít một hơi thật chậm. Trong đầu hắn, hình ảnh Đàm Chí Thành vung tay chiều qua hiện lên rõ mồn một. Không phải là uy thế của gã thượng xá sinh, mà là một đường đi cụ thể: bả vai hơi hạ, hông xoay nhẹ, và lực dồn từ khuỷu tay đẩy thẳng ra phía trước theo ba nhịp ngắt quãng.
Hắn đẩy tay.
Lần thứ nhất, cánh tay hắn chỉ quờ quạng vào không khí. Không có gì xảy ra.
Hắn lùi lại, đứng cách chậu nước rửa nong đúng hai gang tay. Trác tung đòn. Mặt nước khẽ gợn sóng, lan ra tới mép chậu rồi tan biến. Hắn bước lùi thêm một gang nữa, cũng đánh đúng thế ấy, nhưng mặt nước hoàn toàn lặng thinh. Khoảng cách hai gang là giới hạn cuối cùng mà lực của hắn có thể chạm tới.
Tiếp theo, hắn thử với nhúm tro bếp vương vãi trên nền sân. Đầu tiên hắn đứng cách nhúm tro một sải tay rồi đẩy mạnh. Tro chỉ hơi rung rinh chứ không xê dịch. Hắn bước lại gần thêm nửa bước, nhắm thẳng tâm nhúm tro mà phóng lực. Lần này nhúm tro dạt đi tạo thành một vệt sạch dài chừng một gang tay. Hắn gom tro lại, thử lại nhúm tro lần thứ hai đúng vị trí vừa rồi. Tro văng đi dạt ngắn hơn lần đầu hẳn một nửa, chỉ được vài đốt ngón tay vì bả vai hắn đã bắt đầu mỏi. Hắn quay sang thanh củi khô dựng đứng bên vách lò. Đánh liên tiếp năm lần thì phải nghỉ.
Không phải vì bắp tay mỏi. Vì chỗ xương ức thắt lại.
Đến lần thứ tư hắn mới để ý ra một chuyện: đòn chỉ ăn khi hắn thở ra đúng lúc đốt cuối bung. Lỡ thở vào thì cánh tay là một khúc gỗ. Gánh nặng cũng vậy, đặt vai vào lúc hít vào là hụt.
Trác thu tay về, thở dốc. Hắn hiểu rồi. Hắn không có khí. Những gì hắn vừa làm chỉ là mượn cái vỏ của một bậc ba để múa may. Khí trong người hắn vẫn tan biến qua các kẽ xương như nước đổ vào cát. Hắn biết đúng cách đánh của nhà họ Đàm, biết cả chỗ hở khi hông xoay không kịp, nhưng sức của hắn vẫn chỉ là sức của một đứa hạ xá bậc không.
Hắn quay lại lò sấy. Lửa trong lò đã đượm, reo lách tách. Hắn ngồi bệt xuống nền đất, nhìn chằm chằm vào những thanh củi đang cháy đỏ. Nhà hắn ở làng Nương ba đời làm nghề hầm than. Bố hắn thường bảo, củi rừng bỏ vào hầm, đốt đủ lửa thì phần thịt tươi sẽ cháy sạch thành khói, chỉ còn lại cái cốt đen bóng, chắc nịch và tỏa nhiệt bền bỉ. Thứ ấy gọi là than.
Cơ thể hắn bây giờ chính là một cái hầm. Công pháp của người khác đánh vào, phần khí mạnh mẽ của họ giống như phần thịt tươi của củi, cháy sạch trong người hắn. Nhưng cái cốt — cái hình của đòn đánh, đường đi của lực — thì ở lại.
Trác với tay lấy gói vải nhỏ giấu trong kẽ đá vách lò. Hắn mở gói vải, đổ mớ dược liệu ra lòng bàn tay để kiểm tra kỹ lưỡng. Từng mẩu cam thảo khô, từng lát sinh địa đen nhánh được hắn đếm lại không thiếu một vị. Hắn tỉ mẩn soi từng miếng dưới ánh lửa lò bập bùng. Hắn phát hiện hai lát sinh địa đã bắt đầu chớm mốc trắng ở rìa. Trác tặc lưỡi, tiếc rẻ nhặt riêng chúng ra rồi ném vào lòng lò đang cháy. Số thuốc còn lại hắn chia đều làm hai phần cho hai lần sắc.
Hắn lấy một lớp vải mỏng bọc bên trong, rồi lấy lá dong già bao ra ngoài. Hắn miết chặt mép lá. Đi đường một buổi, sương muối không ngấm vào được.
Vừa làm, hắn vừa nhẩm. Mồng Mười lĩnh phần dược, hạ xá một phần ba thang, năm nay lại bị trừ đi một phần tư vì thiếu tám gánh củi. Chỗ còn lại sắc được mấy thang thì hắn tính ra rồi, và con số ấy không đủ cho tới ra Giêng.
Xong xuôi, hắn định hát lại một câu gì đó để gửi gắm vào gói thuốc. Đó là một thói quen cũ. Mỗi khi gửi thuốc về, hắn thường hát khẽ câu hát ru của u như thể làm thế thì thuốc sẽ bớt đắng, cái Nụ sẽ mau khỏe hơn.
"À ơi..."
Trác dừng lại. Cổ họng hắn nghẹn đắng. Hắn không nhớ được câu tiếp theo.
Hắn bắt vào theo tiếng đầu. Được hai tiếng thì hụt.
Hắn đổi cách, nhún người theo nhịp võng u vẫn đưa. Đến chỗ u hay xuống giọng thì hụt, đúng chỗ ấy.
Hắn nhắm mắt, thử lối thứ ba, lần theo chỗ u uốn cao lên ở cuối câu. Cũng hụt ở đúng chỗ ấy.
Trác thôi. Hắn quay lại buộc nốt dải vải quanh gói thuốc.
Trác đứng dậy. Hắn cầm gói thuốc bằng đôi bàn tay hơi run, cố sức buộc lại nút thắt của dải vải. Nút thắt đầu tiên bị lỏng, hắn tháo ra làm lại. Lần thứ hai hắn siết quá mạnh khiến lá dong rách một đường nhỏ. Hắn lẳng lặng tìm một miếng lá khác, bao lại rồi buộc lại lần nữa cho đến khi gói thuốc thật chắc chắn. Xong rồi hắn vẫn ngồi đó. Hắn cời lại lò một lượt nữa, dù lò đang đượm và chẳng ai bắt hắn làm.
Đêm qua trong nhà kho, trong người hắn có một thứ ở lại. Sáng nay trong đầu hắn có một chỗ trống. Hắn không biết hai cái đó có dính gì với nhau không.
"Trác?"
Tiếng gọi làm hắn giật mình. Cái Sen đứng ở lối vào khu lò, tay xách một cái giỏ tre nhỏ. Nó nhìn hắn, đôi mắt nheo lại vì khói lò.
"Tao mang cỏ sương mồ sang cho mày đây. Hái trên dốc Rùa từ lúc sương chưa tan đấy."
Nó bước lại gần, đặt nắm cỏ xanh mướt lên mặt nong. Sen nhìn vào mặt Trác, rồi nhìn xuống gói thuốc hắn đang cầm trên tay.
"Mày sao thế? Trông như mất hồn."
"Không có gì." Trác cúi mặt. "Tao đang tính xem mồng Mười này có đủ công để lĩnh phần dược mới không."
"Mày làm như trâu thế kia, lão coi sổ mà cắt của mày thì tao xuống phòng giám xá tao kiện." Sen nói đoạn, chợt hạ thấp giọng. "Cái Nụ dạo này thế nào? Vẫn ngồi giữa đường à?"
"Vẫn thế." Trác trả lời cộc lốc, rồi đứng dậy xách đôi thùng không. "Tao đi gánh nước."
Sen đứng nhìn theo bóng lưng hơi lệch của Trác. Nó định gọi hắn lại để hỏi về vệt tím trên ngực mà nó thấy thấp thoáng qua cổ áo vá, nhưng nhìn bộ dạng của hắn, nó lại thôi. Nó lẳng lặng quay ra vườn, dắt con dao nhỏ vào thắt lưng.
Trác gánh nước về đến sân thì thấy cụ Đàn đã ra lò. Cụ đang cầm một cái cào gỗ nhỏ, cẩn thận đảo lại những nong dược đang phơi. Cụ dừng tay, nhặt ra một vài phiến thuốc bị cháy sém cạnh do lửa lò quá hỗn rồi bỏ vào giỏ tre đeo bên hông.
"Củi lò hai hơi non, cho thêm hai thanh gỗ tạp vào." Cụ nói, mắt không nhìn Trác. "Nong sinh địa này phơi chưa đủ nắng, tí nữa chuyển ra đầu hồi phía đông, chỗ ấy đón nắng sớm."
"Chỗ ấy nhiều gió, sợ bay thuốc không cụ?" Trác hỏi nhỏ.
"Gió sớm làm khô nhựa, không bay được. Đừng có lanh chanh." Cụ Đàn đáp cộc lốc.
Trác không nói thêm, hạ đòn gánh xuống rồi lẳng lặng bưng nong sinh địa sang đầu hồi phía đông như lời cụ chỉ. Cụ Đàn đứng đó nhìn theo, rồi cụ đi về phía khoảng sân sau lò sấy.
Cụ dừng lại đúng chỗ vệt tro dạt thành hình rẻ quạt. Cụ đứng đó rất lâu, nhìn chăm chăm xuống nền đất nện. Gió sớm thổi qua, làm vạt áo nâu bạc của cụ bay phất phơ.
Cụ Đàn quay đầu lại, nhìn Trác một lượt từ trên xuống dưới. Cụ nhìn đôi bàn tay đầy vết chai, rồi dừng lại ở vệt tím thấp thoáng nơi cổ áo hạ xá.
"Ba mươi năm trước cũng có một đứa khánh câm."
Cụ Đàn buông một câu rồi quay lưng đi thẳng vào trong khu lò sấy, bắt đầu trở những nong dược liệu còn đang bốc khói ấm.