Chương 3: Bảng kê treo trên tường điếm canh đê
Thuộc tiểu thuyết Tiệm Cầm Đồ Chợ Âm Dương
Tác giả: Trần Vũ Phong · Thể loại: Huyền Huyễn · Đăng ngày · 2018 từ · khoảng 10 phút đọc
Mồng Chín tháng Giêng. Trời tạnh ráo. Gió sông Vị thổi hun hút. Vị bùn bãi nồng nặc hòa cùng hơi lạnh nước nguồn. Phạm Đắc đứng trước cửa tiệm. Tay hắn luồn vào áo vải thô. Ngón tay chạm cạnh sắc miếng giấy bản chép dấu triện tối qua. "Này, chìa khóa đây." Đắc đưa chùm chìa sắt cho người phụ việc. Cậu nhỏ đón lấy bằng hai tay. Mặt nó còn ngái ngủ. Đắc nhìn khuôn mặt sạm nắng ấy. Hắn định dặn dò kỹ. Nhưng khi mím môi, cái tên cậu nhỏ tan biến. Hắn chỉ thấy hình ảnh đứa trẻ ngồi băm bèo trên bến. Hắn nhớ tiếng nó cười khi ăn bánh đa kê. Tuyệt nhiên không có thanh âm nào để gọi. Hắn khựng lại. Tay hắn tì lên vai cậu nhỏ. "Trông tiệm cho cẩn thận. Ai đến chuộc đồ cũ thì bảo đợi tôi về. Đồ mới mang đến cầm thì tuyệt đối không nhận. Nhớ chưa?" Cậu nhỏ gật đầu lẹ lịu: "Nhà cháu nhớ rồi. Mà bác đi đâu từ sớm thế? Nay không mở sổ sao?" "Tôi sang bên kia đê có chút việc. Mấy món trong rương sắt, món nào có đánh dấu lạt đỏ thì không được chạm tay trần vào. Nhớ lấy." "Vâng, bác cứ yên tâm. Cháu chỉ quét tước quanh quầy thôi." Đắc gật đầu. Hắn kéo vành nón rồi bước đi. Đắc đi dọc chân đê. Hắn tránh những bãi phân bò bốc hơi. Sáu ngày nữa là đến rằm tháng Giêng. Con số ấy lù lù hiện ra. Nó nặng nề. Mỗi bước chân đi trên cỏ nhạt đều trĩu xuống. Bến đò ngang sông Vị khuất sau bụi tre ngà. Nước sông mùa này cạn. Những mảng phù sa nứt nẻ hiện ra. Con đò của ông lái già dập dềnh theo nhịp sóng. Đây là lần đầu tiên Đắc qua sông. "Sang điếm canh, phải không thầy giữ sổ?" Ông lão không ngẩng đầu. Tay lão lụi cụi tát nước dưới lòng đò. Đắc bước xuống. Mạn thuyền nghiêng đi. "Sao ông biết tôi sang đó?" Ông lão ngừng tay. Đôi mắt lão đục mờ. Nếp nhăn trên mặt xô lại. "Cái hướng này, tầm này, không đi chợ thì chỉ có sang Hội Đò. Nhưng tôi khuyên thầy, chỗ ấy không có tiền thì đừng vào. Người của Hội Đò họ không nói chuyện bằng tình nghĩa đâu." "Tôi sang hỏi chuyện cũ của bà tôi." "Bà Đợi à?" Ông lão chép miệng. Lão đẩy sào một cái rõ mạnh. Con đò tách bến. Mũi thuyền xoay ra giữa dòng nước xiết. "Bà thầy là người biết điều nhất vùng này. Nhưng cái nợ với Hội Đò thì khác. Họ giữ bến, giữ sông, giữ cả hơi thở của cái làng này từ đời nảo đời nào rồi." "Lễ nước làng Vọng mỗi năm bao nhiêu, ông có biết không?" Ông lão cười húng hắng. Tiếng cười vỡ vụn trong gió. "Tôi chỉ là kẻ đưa đò, biết sao được cái túi của Hội Đò to chừng nào. Chỉ biết là năm đói, không có người đứng ra trả hộ thì cái làng này chắc giờ chỉ còn bãi tha ma. Thầy sang đó, cứ giữ cái mặt cho tỉnh. Đừng có mặc cả." Đắc im lặng. Mắt hắn nhìn về bờ bên kia. Một gian nhà gạch đỏ au trơ trọi giữa bãi bồi. Đó là điếm canh của Hội Đò. Sông Vị chảy quẩn. Nước đỏ ngầu. Bước lên bờ, Đắc rùng mình. Gian điếm canh xây bằng gạch già. Tường không trát vôi. Mọi thứ cứng nhắc. Bên trong, mặt sàn gạch bát tràng bóng lộn. Hai cái chõng tre đặt hai bên. Giữa nhà là chiếc bàn gỗ lim lớn. Trên bàn đặt nghiên mực đá và chồng sổ đóng bìa xanh. Bức tường chính diện treo một bảng gỗ. Đó là danh sách các làng ven sông. Làng Vọng nằm ở gần cuối. Bên cạnh là dãy số đỏ chói viết bằng mực tàu. "Đứng đó làm gì? Vào đây." Một giọng nói khô khốc vang lên. Đắc bước vào. Hắn bỏ nón đặt dưới chân chõng. Người đàn ông trạc ngũ tuần mặc áo dài đen. Tóc ông ta búi gọn. Tay ông ta cầm bút tra cứu cuốn sổ dày. Ngón tay trỏ gõ đều đặn lên mặt bàn. "Tên gì? Ở đâu? Sang đối sổ hay nộp lễ?" "Tôi là Phạm Đắc, người giữ sổ tiệm Đợi ở cuối chợ Viềng. Tôi sang hỏi về một giao kèo cũ." Lúc này, ông thu bến mới ngẩng đầu lên. Ánh mắt ông ta sắc lẹm. "Tiệm Đợi? Bà Đợi đâu mà để thằng trẻ ranh sang đây?" "Bà tôi đi vắng. Tôi giữ sổ thay một năm nay." Đắc rút miếng giấy bản ra. Hắn đặt nhẹ lên mặt bàn gỗ. Trên giấy là hình vẽ một con thuyền không lái trôi trên ba gợn sóng. Dấu triện Hội Đò hiện rõ. Ông thu bến cầm miếng giấy lên. Ông ta liếc mắt rồi đặt xuống ngay. Ông ta đi về phía tủ gỗ. Một tập giấy cũ được kẹp bằng thanh tre hiện ra. "Đúng là dấu của chúng tôi. Dấu này chỉ dùng cho loại giao kèo thế thân. Nghĩa là không dùng vật để cầm, mà dùng người để thế." Đắc nuốt nước bọt: "Ông tra giúp tôi, ngày mồng bảy tháng Giêng năm ngoái, bà tôi có ký gì ở đây không?" Ông thu bến lật từng trang giấy dó. Tiếng giấy sột soạt vang lên. Ông ta dừng ở một trang. Ngón tay dừng ở dòng thứ mười hai. "Có đây. Vũ Thị Bảy, làng Vọng. Nội dung: Đứng ra nhận thay phần lễ nước còn thiếu của làng Vọng năm Quý Mão. Thời hạn: Một năm. Vật thế chấp: Chính bản thân người ký." "Lễ nước làng Vọng năm đó thiếu bao nhiêu?" Ông thu bến đẩy cuốn sổ về phía Đắc. Những con số rạch ròi từng nét: "Làng Vọng có bốn trăm linh hai suất đinh, một trăm rưỡi mẫu ruộng bãi. Lễ nước mỗi năm là hai mươi lượng bạc trắng và ba mươi hũ rượu nếp cái hoa vàng. Năm đói, làng ông chỉ nộp được ba lượng bạc vụn. Số còn thiếu là mười bảy lượng bạc và toàn bộ số rượu." Đắc tính nhẩm. Mười bảy lượng bạc trắng là số tiền lớn. Nhưng tiệm Đợi có thể lo liệu. "Số bạc đó bà tôi đã trả đủ chưa?" Ông thu bến lắc đầu: "Bà ông không trả bằng bạc. Bà ông xin gộp số nợ đó vào một giao kèo lớn hơn. Bà ông bảo, nếu thu được đủ lễ nước của cả làng vào rằm tháng Giêng năm sau, thì giao kèo xóa bỏ. Nếu không, bà ông thuộc về Hội Đò để trừ nợ." "Đợi đã," Đắc cắt lời, "Sao lại là lễ nước của cả làng? Bà tôi chỉ trả hộ phần còn thiếu của năm đói thôi chứ?" Ông thu bến nhếch mép: "Cậu trẻ, cậu chưa hiểu luật Hội Đò rồi. Một khi đã có người đứng ra bảo lãnh cho nợ của cả làng, thì từ đó về sau, lễ nước của làng đó được tính vào sổ của người bảo lãnh. Năm nay, làng Vọng vẫn chưa nộp một xu lễ nước nào. Họ bảo, mọi thứ đã có tiệm Đợi lo." Đắc nhìn lên bảng kê trên tường. Làng Vọng nợ hai mươi lượng bạc và ba mươi hũ rượu. Cộng thêm số nợ cũ còn treo. "Vậy tổng cộng, muốn chuộc bà tôi ra, tôi phải trả bao nhiêu?" "Ba mươi bảy lượng bạc trắng, sáu mươi hũ rượu nếp, phí quá hạn ba lượng nữa. Tổng cộng bốn mươi lượng." Bốn mươi lượng. Toàn bộ số bạc vụn trong rương sắt hiện giờ không đủ mười lượng. Tiệm Đợi chỉ tích trữ nợ. "Tôi trả trước mười lượng được không? Số còn lại cho tôi khất đến cuối năm." "Không." Ông thu bến trả lời dứt khoát. "Hội Đò không nhận trả góp. Đúng rằm tháng Giêng, nộp đủ thì người về. Thiếu một xu, giao kèo thi hành." "Vậy nếu quá hạn mà tôi không đủ bạc?" Ông thu bến nhìn thẳng vào mắt Đắc. Giọng ông ta lạnh tanh: "Thì bà ông sẽ xuống bến. Hội Đò đang thiếu người quét tước dưới Thủy Phủ. Ở đó không có ngày rằm, cũng không có chợ Viềng để cậu tìm đâu." Đắc siết chặt nắm tay dưới gầm bàn. "Cho tôi xem bảng kê các nhà còn thiếu lễ nước của làng Vọng." Ông thu bến nhướng mày. Ông ta rút một tờ sớ dài trên kệ. Tờ sớ trải ra mặt bàn. Đắc cúi xuống nhìn. Từng cái tên hiện ra. Nhà ông Trương tuần: thiếu hai quan tiền lễ. Nhà bà hàng bún: thiếu một quan. Nhà lão thợ mộc: thiếu ba quan. Đắc đọc đến đâu, đầu hắn nảy số đến đó. Cái tên nào cũng quen. Hắn lật lại trí nhớ về cuốn sổ ở tiệm. Nhà ông Trương tuần cầm cái mâm đồng vào đúng ngày mồng chín tháng Chạp năm ngoái. Bà hàng bún cầm chiếc nhẫn cỏ vào ngày mồng mười tháng Chạp. Lão thợ mộc cầm bộ đục cũng vào tầm đó. Tất cả những nhà nợ lễ nước đều có đồ nằm trong tiệm Đợi. Họ đều cầm đồ vào cùng một khoảng thời gian. "Những nhà này," Đắc chỉ vào bảng kê, "tại sao họ lại nợ đều nhau như thế này?" Ông thu bến khoanh tay trước ngực: "Vì năm đói, bà ông đi từng nhà, bảo họ đưa một món đồ bất kỳ cho bà ấy. Bà ấy hứa sẽ gánh nợ cho họ. Dân làng Vọng tưởng bà ấy có phép tiên, hay có kho vàng giấu dưới gầm giường. Họ đưa đồ, bà ấy đứng ra ký sổ với chúng tôi. Giờ thì họ không nhớ là mình nợ Hội Đò, họ chỉ nhớ là đã đưa đồ cho tiệm Đợi." Đắc hiểu rồi. Bà nội hắn dùng chính bản thân làm một cái túi lớn. Bà gom hết nợ của làng vào người. Mỗi món đồ trong tiệm là mảnh vỡ của một vụ nợ khổng lồ. "Ông cho tôi hỏi câu cuối," Đắc nhìn tờ sớ, "Tên những người này, tại sao lại được viết bằng mực đỏ?" "Vì đó là những cái tên đã mất chủ." Ông thu bến cuộn tờ sớ lại. "Họ đã nợ quá lâu, đến mức cái tên cúng cơm của họ giờ cũng thuộc về Hội Đò rồi. Nếu cậu không chuộc bà cậu ra, thì cái tên 'Vũ Thị Bảy' cũng sẽ được viết bằng mực đỏ như thế." Đắc đứng dậy. Hắn vái chào ông thu bến. Hắn bước ra khỏi điếm canh. Gió sông thổi thốc vào mặt. Hắn trở lại bến đò. Chuyến đò về im lìm. Đắc nhẩm lại. Bốn mươi lượng bạc. Tiệm Đợi có tám lượng. Nếu đòi nợ cả làng, số tiền thu về chẳng thấm vào đâu. Kho bạc của tiệm nằm ở đồ cũ. Nhưng chúng chỉ là sắt vụn nếu không có người chuộc. Đò cập bến. Đắc không về tiệm ngay. Hắn rẽ vào xóm trong đê. Hắn đứng ở đầu làng. Những mái nhà tranh bắt đầu lên khói. Người dân đi làm đồng về chào hắn. Họ gọi "thầy giữ sổ" đầy kính trọng. Họ không biết tên mình đang bị gạch đỏ bên kia sông. Họ không biết yên ổn của họ là do một người đàn bà trả giá bằng hơi thở. Đắc nhìn cả làng Vọng. Hắn thấy bốn trăm linh hai suất đinh là bốn trăm linh hai món nợ. Hắn thấy mỗi mái tranh là một dòng sổ chưa gạch. Hắn đứng đó cho tới lúc có người trong xóm đi ngang, chào hắn một tiếng. Hắn chào lại, rồi quay về phía tiệm Đợi.