Chương 8: Nhài đọc hộ tôi sổ của bà
Thuộc tiểu thuyết Tiệm Cầm Đồ Chợ Âm Dương
Tác giả: Trần Phong · Thể loại: Huyền Huyễn · Đăng ngày · 2199 từ · khoảng 11 phút đọc
Bà sốt đêm 23 tháng Giêng, 38,9 độ, tôi đo 3 lần bằng 2 cái nhiệt kế. Tôi gọi cho chị Nhài lúc 19:40, vì chị là người duy nhất tôi biết có số điện thoại và có khả năng mắng tôi một cách hữu ích. Chị tới sau 25 phút, áo mưa còn nhỏ nước, nghe phổi bà, bảo phổi ổn, chắc nhiễm trùng tiết niệu nhẹ, do tôi cho uống ít nước. Chị gọi bác sĩ trực trên huyện, đọc mạch, huyết áp, kết quả que thử, bác sĩ cho y lệnh. Chị truyền cho bà một chai, ngồi xem tốc độ giọt.
"Đêm nay chị ở lại tới khi hạ sốt. Không tính tiền, em đừng ghi vào bảng."
Tôi không ghi. Tôi ghi vào đầu.
Khoảng 22:30 bà ngủ yên, sốt xuống 37,8. Chị Nhài xuống nhà tìm cái khăn khô, tôi bảo khăn để trong buồng sau, trên cái kệ. Tôi nói câu đó trong lúc đang bận rửa bát, và tôi nói theo thói quen của 12 năm sống ở nhà này. Đến khi bọt xà phòng tan hết trên tay, tôi mới nhớ ra lúc này là buổi tối.
Tôi đi vào, tay còn ướt.
Chị Nhài đứng ở cửa buồng, tay cầm cái khăn, không nhúc nhích. Chị đang nhìn lên cái kệ giấy đăng ký xe. Trên kệ, Thơm cũng đang nhìn chị, cái lược dừng giữa bím tóc, miệng há ra một chút.
"Đây là ai?" chị Nhài hỏi. Giọng rất bình tĩnh. "Em có họ hàng ở lại nhà mà không báo chị à? Em kia, em xuống đi, em ướt hết chân rồi, em bị làm sao thế?"
Sáng hôm đó tôi vừa đọc lại chương 3, và tự thấy mình viết khá rõ: người sống chỉ thấy cô ấy nếu đã từng bị đem cầm.
"Nó thấy bà," Thơm nói, chậm rãi, từng chữ. "Thằng ranh, nó thấy bà."
Chị Nhài quay sang tôi. Tôi đã mất 16 năm ăn học để có một câu trả lời cho khoảnh khắc này, và câu đó là:
"Chị ngồi xuống đi đã."
Chị không ngồi. Chị đặt cái khăn lên bàn, đi tới cái kệ, vẫn bằng dáng đi của người có việc phải làm, và chị đưa tay ra.
"Đưa tay đây, em."
Thơm nhìn tôi, nhìn cái tay đang chìa ra. Chắc trong 60 năm chưa ai ngỏ lời với nó như thế. Nó chìa tay. Chị Nhài đặt ba ngón lên cổ tay nó, chỗ bắt mạch, đúng tư thế, mắt nhìn đồng hồ đeo tay. Chị đứng thế 15 giây. Chị đổi sang tay kia. Tôi thấy mấy ngón tay chị hơi lún vào trong da của nó, lún sâu hơn da người lún. Chị rút ở túi ra cái súng đo trán, chĩa vào Thơm, bấm. Cái súng kêu tít, chị đọc số. Chị bấm lần nữa.
"Lo," chị đọc. Tức là dưới mức đo.
Chị cất súng đi. Chị rút cuốn sổ lò xo, mở ra một trang trắng, cầm bút. Rồi chị ngồi xuống cái ghế nhựa rất chậm, như người ta hạ một thứ dễ vỡ xuống mặt bàn, và chị nói, không ngẩng lên:
"Giờ thì em nói đi. Từ đầu. Ghi vào đây cho chị."
Tôi kể mất 40 phút. Tôi kể cả chuyện ngăn kéo, chuyện cân, cái tên tôi không gọi được. Chị ghi đầy 3 trang, thỉnh thoảng hỏi lại một con số. Thơm đã trèo xuống, ngồi đối diện chị trên một cái thùng các tông, khoanh tay, nhìn chị chăm chú y như xem một diễn viên mới. Khi tôi kể tới đoạn đêm không trăng, cái cầu thang của chị trùng lịch âm, chị gật đầu một cái rất nhỏ.
"Âm lịch. Chị biết em nói dối vụ thuỷ triều mà." Chị gõ đầu bút lên sổ. "Được. Chị không tin. Chị ghi nhận là có dữ liệu chị chưa giải thích được. Cho chị xem sổ."
Thơm nghiêng người về phía chị. "Con này được đấy," nó nói với tôi. "Tay lạnh mà không sợ. Hồi bà còn sống mà có đứa như này ở làng là bà chơi với nó, rồi cãi nhau, rồi lại chơi."
"Em ấy nói gì?" chị Nhài hỏi tôi, dù chị nghe rõ hơn ai hết.
"Chị nghe được thì trả lời bà đi. Bà ngồi trước mặt chị đấy."
Chị nhìn sang. Tôi biết chị đang phải làm một việc mà 5 năm ở khoa lão chưa ai dạy, là hỏi chuyện một bệnh nhân không có mạch. Chị hỏi đúng những gì chị vẫn hỏi người già: "Em có thấy lạnh không? Ngủ được không? Có đau chỗ nào không?"
Tôi thấy Thơm há miệng định chua một câu, rồi nó ngậm lại. Nó nhìn xuống hai bàn chân. Người ta chỉ toàn hỏi nó giá.
"Lạnh chân," nó nói, rất khẽ. "Mỗi chân thôi."
Chị Nhài ghi vào sổ. Chị ghi thật. Tôi nhìn thấy dòng đó: *lạnh chân, 60 năm.*
Tôi mở cuốn sổ giấy dó ra. Ở phần sổ khách, chị đọc được ngay, chị khen chữ bà đẹp. Chị lật tiếp một trang, rồi trang nữa, tay chị đi nhanh, kiểu người xem hồ sơ bệnh án. Và chị dừng lại.
Chị ngừng thở mà mặt không đổi gì, chỉ có ngón tay trên trang giấy là hơi ấn xuống, làm mặt giấy trũng đi một chỗ.
"Sao thế chị?"
Chị nhìn dòng đó chừng 10 giây. Tôi nhìn theo được, dòng đó là sổ khách chứ không phải về nhà tôi, nhưng chị đã đặt nguyên bàn tay lên che nó đi. Năm ghi ở lề là 17 năm trước, tôi chỉ kịp thấy thế.
"Không có gì." Chị lật trang đi. "Có một cái tên chị biết, ở cột người cầm. Món thì ghi một thứ liên quan tới chị. Em đừng hỏi, chuyện của nhà chị. Thế là chị thuộc diện em vừa kể." Giọng chị vẫn đều, chỉ có điều bây giờ nó đều một cách có chủ ý. "Tập cuối đâu?"
Tôi lật tới phần đóng chỉ đỏ, đẩy sang cho chị. Chị cúi xuống. Tôi quan sát mắt chị đi từ trái sang phải trên cái trang mà với tôi chỉ là một vùng mù, và tôi có cái cảm giác rất lạ, như đứng ngoài cửa phòng cấp cứu nhìn qua ô kính.
"Đọc được," chị nói.
Bạn biết tôi đã đợi 23 ngày cho hai chữ đó không.
"Chị đọc to đi."
Chị đọc. Tôi nhìn thấy môi chị cử động, nghe được chị thở, và ngay chỗ tiếng nói đáng lẽ vang lên, tai tôi ù lại như lúc xe khách vào đường hầm. Chị dừng lại vì thấy tôi đưa tay lên tai. Chị viết ra sổ của chị, đưa tôi xem, mắt tôi trượt khỏi nét bút bi của chị. Chị viết lại to hơn. Trượt. Chị nhìn tôi rồi nhìn sang Thơm.
"Cả cái mà chị chép lại cũng không được à?"
"Chép là vẫn dòng đấy," Thơm nói. "Luật nó khôn lắm."
Tôi đã suy nghĩ về vấn đề này 23 ngày và tôi có một giả thuyết. Tôi là kế toán. Luật nào cũng có khe hở, quan trọng là đọc đúng câu chữ. Luật nói tôi không đọc được dòng sổ. Luật không nói tôi không được biết.
"Chị đừng đọc lại lời trong sổ. Chị cứ đọc xong rồi kể cho em nghe bằng lời của chị. Kể như kể chuyện hàng xóm."
Chị Nhài nhìn tôi lần đầu tiên bằng một kiểu nhìn khác kiểu mọi khi. Chị cúi xuống dòng đầu tiên, đọc thầm, ngẩng lên, nghĩ một chút, rồi nói:
"Có một bà cụ. Lâu lắm rồi, 18 năm trước, bà đem đi đổi một buổi sáng. Buổi sáng đầu tiên bà được bế đứa con gái mới đẻ. Bà còn tả thêm: hôm đó có sương, con bé hắt hơi 2 cái."
Tôi nghe được.
Tôi nghe rõ từng chữ. Tôi đã mở miệng định reo vì khe hở hoạt động. Rồi cái câu đó đi vào tới nơi. Đứa con gái mới đẻ là mẹ tôi. Tôi có đúng một tấm ảnh của mẹ, và tôi cân tên mẹ ra 0. Bà tôi là người duy nhất trên đời biết mẹ tôi hồi mới đẻ hắt hơi mấy cái, và bà đã bán nó.
18 năm trước. Tôi không cần máy tính cho phép trừ này, và tôi biết bạn đã làm xong trước tôi. Năm đó tôi 6 tuổi. Năm đó có chuyến đò. Từ năm đó bà có thêm một đứa trẻ phải nuôi, một cái tiệm ế, và bắt đầu đem trí nhớ đi bán. Tôi có một giả thuyết rất hợp lý: bà bán để lấy cái ăn cho tôi. 12 năm tiền học, tiền cơm, tiền sách, cái xe đạp. Một đứa trẻ không tự nhiên mà lớn được. Giả thuyết này làm tôi muốn đi vào nhà vệ sinh và ở lại đó một lúc. Tôi đã mở sẵn một ô Excel để ghi nó, rồi tôi đóng lại, không nhập gì. Có những con số tôi chưa muốn thấy nằm trong ô.
"Đọc tiếp đi chị," tôi nói, hơi khàn.
Chị đọc tiếp. Tôi sẽ không kể hết 40 dòng ở đây, tôi không kể nổi. Tiếng ru của mẹ bà. Mùi đầu ông tôi lúc còn trẻ. Bữa cơm đầu tiên sau khi hết đói. Cách làm mắm tép. Cái ngày mẹ tôi đi lấy chồng. Mẹ tôi dạy tôi nói chữ gì đầu tiên, tôi không biết, vì bà đã bán nó ở dòng 31. Mỗi dòng chị Nhài đọc xong, nghĩ, rồi kể lại bằng cái giọng đều đều, không thêm tính từ nào. Tôi ngồi xuống sàn lúc nào không biết. Dòng nào cũng có hạn: rằm tháng Bảy năm nay. Có một mục làm chị nhíu mày.
"Mục Nhận, cái mục ghi người ta nhận về cái gì ấy. Dòng khách thì ghi rõ, 30 đêm ngủ, một mùa yên. Dòng của cụ thì bỏ trống. 40 dòng trống hết."
Tôi nhìn Thơm. Thơm đang nhìn xuống chân mình.
Tới gần cuối, chị Nhài đọc một dòng, ngập ngừng, rồi ngước nhìn con bé ngồi trên thùng các tông. Rồi chị nhìn lại trang giấy. Đây là lần đầu tôi thấy chị do dự.
"Dòng 39. Tháng Mười năm ngoái. Em có muốn chị nói ra không."
Thơm không trả lời ngay. Nó đặt cái lược lên đầu gối.
"Đọc đi," nó nói. "Đọc đúng chữ. Bà nghe được."
Chị Nhài đọc. Tai tôi ù đi, nên tôi không biết trong dòng đó ghi gì. Tôi chỉ thấy Thơm nghe, đầu hơi nghiêng, đúng kiểu đứa trẻ nghe người lớn đọc tên mình trên bảng thông báo. Nghe xong nó đứng dậy, đi tới, ghé nhìn trang giấy, ngón tay trong suốt dò đúng một chỗ. Nó không biết chữ, nhưng có hai chữ thì 60 năm qua nó đã nhìn đủ để nhận ra bằng hình dáng.
"Chữ chị bà xấu bỏ xừ," nó nói. "Mà tên bà thì viết đúng."
Không ai nói gì nữa.
"Dòng cuối," chị Nhài nói sau một lúc, giọng hơi khác, rồi lấy lại được. "Dòng 41 chị không đọc được, không phải tại chị. Nó bị dán đè một dải giấy, dán ngang, mép giấy có đóng dấu đỏ, giáp lai với trang sau. Hình như người ta niêm nó lại. Và mỗi dòng trong 40 dòng trên đều có đóng cùng cái dấu đó ở cuối dòng, nhỏ thôi, ngoài năm mục, chắc để ghi nơi giữ. Nghĩa là mấy món của cụ không nằm ở đây. Chúng nó nằm ở chỗ nào đó có cái dấu này."
"Dấu thế nào?"
Chị đang định đọc, rồi nhớ ra, chị quay cuốn sổ lò xo lại, và vẽ. Chữ thì mắt tôi trượt, nhưng một cái khung thì không ai cấm. Tôi nhìn cái hình nguệch ngoạc bằng bút bi hiện dần trên giấy kẻ ngang. Một hình vuông. Một đường viền nữa bên ngoài hình vuông. Chị chấm bút vào giữa, bảo trong này có một chữ.
Tôi lấy ví trong túi quần ra. Cái ví của tôi có 3 ngăn, ngăn thứ hai đựng tấm danh thiếp mà tôi vẫn chưa xé. Tôi đặt nó xuống mặt sổ lò xo, cạnh hình vẽ, căn cho thẳng mép.
Chữ TÍN nằm trong một hình vuông viền đôi. Chị nhìn chữ đó một lúc, rồi gật đầu.
Thơm thì không nhìn. Tôi nhìn gáy nó là biết nó đã biết từ lâu.
"Cái anh Khoát đó," tôi nói, "chưa nói dối câu nào. Anh ấy chỉ bảo tôi rằng tiệm này đang nợ. Anh ấy không nói là nợ ai."
Trên gác có tiếng bà trở mình. Chị Nhài đứng dậy đi lên, tới cửa buồng thì dừng, quay lại nhìn Thơm, nhìn thật lâu, như cố ghi cho đúng.
"Em tên Thơm đúng không," chị nói. "Chị ghi rồi."
*Số cân đêm 23 tháng Giêng: Thơm 6 phân phần tôi. Chị Nhài chưa cân. Còn 169 ngày.*