Chương 6: Hãy ra giá cho đúng

Thuộc tiểu thuyết Trọng Sinh Dưới Chân Núi Tản

Tác giả: · Thể loại: Huyền Huyễn · Đăng ngày · 2140 từ · khoảng 11 phút đọc

Chợ Ma không có ma. Đó là điều đầu tiên ông Hạc bảo, mà ông bảo có một câu suốt cả đoạn đường, xong lại ngậm miệng vào cái hồ lô.

Chợ họp trên một bãi cát nổi giữa sông, phía dưới bến Ngọc, mỗi tháng ba đêm trước rằm. Nước lên là bãi chìm nên chẳng ai dựng được nhà, người ta bày hàng trên chiếu, thắp đèn dầu lạc đựng trong vỏ ốc, ai cũng đội nón sụp hoặc che một mảnh vải ngang mũi. Luật duy nhất của Chợ Ma là không hỏi. Tán tu xuống đổi rễ cây lấy cá, dân chài lên đổi cá lấy thứ gì đó không tiện đổi ban ngày, người của Hội Đò, người của núi cũng có, nhưng cái nón làm tất cả thành người như nhau.

Con cá được giấu cả ngày trong một cái lồng tre ở vụng Sung, ngâm nước, phủ lá. Tới lúc lên đèn, ông Hạc chở hai đứa ra, cá buộc dọc mạn. Hắn đội cái nón rách của bà, cái Mây lấy tro bôi mặt. Bà Nhàn thì tưởng hắn đi đơm đó với ông Tư. Cái Bống gửi sang nhà bác Cả ngủ nhờ từ chiều.

Vừa cập bãi thì tấm tơi ở mũi đò động đậy và một cái đầu trọc thò ra.

"Chị ơi đây là Chợ Ma à? Ma đâu? Có kẹo không?"

Cái Mây đứng lặng, nhắm mắt lại một lát. Thằng Tí đã nằm ở đấy từ chiều, ăn sạch nắm cơm của cả ba người. Giờ đuổi về cũng không được, nó bèn túm tai thằng bé, xách lên, dặn đúng một câu, thấp giọng tới mức thằng Tí xanh cả mặt, từ đó đi đâu cũng níu vạt áo chị.

Hàng đầu tiên họ ghé là một cái chiếu bán vảy, móng, sừng. Sau chiếu có một mụ già nhỏ thó, đầu quấn vải, ngón tay dài, người ta gọi là bà Ba Nhớt. Ông Hạc hất cằm về phía mụ rồi đi ngồi uống rượu. Hắn ra mạn đò, cầm dây, kéo cái đầu con cá lên trên cát cho mụ xem.

Bà Ba Nhớt không đổi sắc. Mụ đứng dậy, đi quanh một vòng, ấn ngón tay vào bụng nó, ngửi ngón tay, ngồi xuống, xỉa răng.

"Cá to," mụ nói. "Thịt dai, già quá, ăn không ngon. Năm bơ."

Hắn cau mày. Năm bơ so với cái bong bóng này là bao nhiêu thì hắn chịu, nhưng hắn biết rõ giá trị của nó tính theo cái thước khác. Hắn đứng thẳng lên, và trước khi ai kịp cản, cái giọng ấy lại bật ra, trầm và đầy uy nghi:

"Trong bong bóng con cá này có khí sáu mươi năm trên mạch thủy. Trên núi, thứ này là một năm công phu. Hãy ra giá cho đúng."

Bà Ba Nhớt nhìn hắn, nhìn lên nhìn xuống, cái nón rách, hai bàn tay băng giẻ. Mụ gật gù, vẻ rất nể.

"Thế à? Dạ, em nó nói đúng lắm. Vậy thì tám bơ, không thể hơn."

"Được," hắn nói, lòng hơi hả, nghĩ mụ đã biết sợ.

Một bàn chân đạp thẳng vào gót hắn, đau tới tận đầu gối.

"Anh tôi bị ngã nước," cái Mây nói. Nó đã chen vào trước mặt hắn, và cái giọng nó lúc này ngọt như mía lùi. "Bà tha cho, nhà có mỗi anh ấy, hồi bé bị thuyền đập vào đầu, nghe ai nói gì cũng học theo. Thôi anh ơi, ta về, chiều nay người của Trạm thu đã bảo mang lên thì họ trả mười bốn. Ta mang cái này ra đây làm gì cho mệt."

Nó nhấc dây lên, kéo con cá xuống nước một đoạn.

"Hãy khoan," bà Ba Nhớt nói.

Ông ấy kể với tôi rằng cả đời ông đã ngồi trên đàn đọ khí với các đại tông sư ba miền, đã thấy nhiều thế đánh hay, không có gì so được với cái đêm hôm ấy, ngồi trên bãi cát xem một đứa con gái mười lăm tuổi bán cá.

"Mười bơ."

"Bà ơi, cá này người trên thượng nguồn đặt rồi, cháu ra đây chỉ hỏi cho biết giá."

"Mười một. Đặt thì đem đi, ra đây làm gì. Mười một là tao thương đứa bé, mặt mày như cái nồi cháy."

Cái Mây thở dài, cúi xuống, ghé sát tai mụ, thì thào nói gì đó, rồi lấy ngón tay trỏ vào cái vây cụt. Mụ ngừng xỉa răng. Lần đầu tiên từ lúc họ ghé vào, cái mặt ấy thay đổi. Mụ cúi xuống lật cái vây lên, hai ngón tay run rất nhẹ.

"Ở Hàm Trâu," mụ nói, giọng khác hẳn. "Mày bắt được ông ấy thật."

"Cháu có bắt gì đâu, ông ấy thương nhà cháu."

"Mười lăm. Hết. Mười lăm bơ là cả cái chiếu của tao rồi đấy, con ranh."

"Dạ, thế thì cái bong bóng cháu bán riêng, thịt bán riêng, xương bán riêng, vây bán riêng ạ," nó nói. Rồi nó đứng thẳng lên, khum tay gọi to ra phía các chiếu bên cạnh: "Ai mua vây ông Cụt không? Vây ông Cụt ở Hàm Trâu, sáu mươi năm!"

Chợ Ma không có luật gì cấm gọi to, chỉ là không ai gọi to. Cả cái bãi im đi một nhịp. Rồi các ngọn đèn vỏ ốc bắt đầu đi về phía này, từng cái, từng cái một, và sau mỗi ngọn đèn là một cái nón.

Người đầu tiên tới là một gã đàn ông cao, trùm vải đen tận mắt, không nói một lời, ngồi xổm xuống cạnh con cá, đặt lên cát bảy cái thẻ tre. Cái Mây lắc đầu. Gã đặt thêm hai. Nó vẫn lắc đầu, mắt nhìn đi chỗ khác, miệng hỏi một cái nón khác xem đã ăn tối chưa. Bà Ba Nhớt rít lên rằng bong bóng ấy mụ đã nói trước, đứng trước phải được trước, cái Mây đáp rằng luật Chợ Ma chỉ có một câu là không hỏi, nó không hỏi ai đứng trước. Gã áo đen đặt thêm ba cái thẻ, thành mười hai, rồi ngẩng lên nhìn nó. Con bé mười lăm tuổi đang chùi mũi bằng cái mu bàn tay đầy tro. Nó gật.

Ba Nhớt lấy thịt và xương với giá bảy bơ, vừa trả vừa chửi. Cái vây cụt một ông già không biết từ đâu tới mua năm bơ, không mặc cả một câu, mua xong ôm vào ngực như ôm một đứa trẻ, đi thẳng ra mép nước.

Cộng lại là hai mươi tư.

Hắn đứng im suốt, cái nón đè xuống mũi, đã học được một điều. Mụ Ba Nhớt lúc đi qua còn nhìn hắn, cười rất thân thiện, thì thào với cái Mây: "Thằng này quý thật. Cứ bảo nó đứng đấy nói mấy câu ấy là khách tin ngay."

Bà ấy bảo tôi để nguyên câu đó. Bà ấy bảo là câu hay nhất cả sách.

---

Muối phải đổi cho đúng. Người có muối ở Chợ Ma đêm đó là ông Diêm, tháng nào ông cũng mang một thuyền ra đổi trong mấy đêm này, khách quen ai cũng biết, nón đội chỉ cho có lệ. Ông ngồi sau cái cân đòn, mặt tròn như quả bưởi, tay chai, đang nói chuyện với một người lái thuyền.

"...chuyến này thì lớn đấy, mùa nước mà lên được tới thượng nguồn là lãi gấp ba, tôi đặt cọc rồi, ông cứ lo đủ thuyền cho tôi." Ông quay lại, đếm thẻ của ba người mua. "Hai mươi tư bơ. Bơ đầy nhé. Cân không biết nói dối. Trạch ơi, đong cho khách."

Thằng bé bước ra từ sau mấy bao muối, tay áo xắn lên.

Hắn không chuẩn bị. Từ sáng hôm kia hắn đã cố không nghĩ tới nó, cố tới mức gần như xong. Giờ nó đứng cách hắn hai bước, trên nền trời có mấy ngọn đèn vỏ ốc, một tay cầm bơ gỗ, một tay gạt miệng bơ cho phẳng, gạt rất cẩn thận, không để rơi hạt nào.

"Chị Mây," nó nói, nhận ra ngay, cái mặt đầy tro kia mà mẹ đẻ cũng phải nhìn kỹ. Nó cười, vẻ mừng thật. "Có thằng Tí đây à. Bán được rồi hả chị? Anh Sơn."

"Mày không được nói với ai đấy," cái Mây bảo.

"Vâng ạ. Em có thấy ai đâu."

Nó đong hai mươi tư bơ, không vội, từng bơ một, cái Mây đếm, thằng Tí đếm theo sai bét. Đến cái bơ cuối, nó đong đầy, rồi nó nhìn sang bố nó, thấy ông đang quay đi nói chuyện, nó xúc thêm một vốc nhỏ bỏ vào bao, cột lại, không nói gì.

Lúc nó quay lại lấy cái bao thứ hai, hắn nhìn thấy sợi cước.

Nó vắt ngang ngực thằng Trạch, mảnh, sáng đều. Mới có, hôm kia chưa thấy, như thể vừa được buộc vào đó đêm nay. Tay hắn lạnh đi. Hắn nhìn vào, không kịp nghĩ mình có nên nhìn hay không.

Nước đục. Nước vàng ngầu màu đất, mạnh tới mức những cái cây trôi trong đó quay tít. Ban ngày, mưa. Một mảng ván thuyền nát, mấy bao muối đang tan. Có một cái đầu chìm xuống, ngoi lên, chìm xuống, cái đầu ấy còn trẻ, miệng mở ra không kêu được gì, một cánh tay giơ lên nắm vào không khí, rồi mọi thứ chìm xuống. Từ một phía khác, có một bàn tay thò xuống nước, túm được cổ áo nó, kéo. Bàn tay chai, xương xẩu, rách ở khớp ngón.

Hắn nhìn xuống tay mình.

Hắn nhớ ra. Chuyện này còn nguyên. Mùa nước năm ấy thuyền muối nhà ông Diêm vỡ, ông mất trắng, thằng con suýt chết đuối và có một đứa kéo lưới nhảy xuống vớt nó lên. Nhà nó tán gia, nó chẳng còn gì, nên mùa thu nó đi theo thằng ấy lên núi thi. Hai đứa trẻ cùng bến, từ đấy thành huynh đệ, gần ba trăm năm.

Chính tay hắn đã kéo nó lên.

Cái chuyến lớn ông Diêm vừa đặt cọc. Cái vệt này sẽ đến vào mùa nước, chưa biết ngày nào, cái ngày đó hắn đã làm mất rồi. Nhưng hắn không cần ngày. Khi nó đến, hắn không phải cầm dao, không phải giết một đứa trẻ. Hắn chỉ cần lúc ấy ở chỗ khác, có một việc nào đó bận tay. Hắn chỉ cần không có mặt.

Không ai trên đời này giỏi việc đó hơn hắn.

"Anh Sơn," thằng Trạch nói. Nó đang đưa dây buộc bao cho hắn bằng hai tay, nụ cười còn đó nhưng đang nhạt đi, chắc do cái mặt hắn lúc ấy. "Anh có mệt không? Tay anh chảy máu kìa."

"Không," hắn nói.

Hắn nhận lấy sợi dây, ngón tay hai đứa chạm vào nhau. Tay nó dính muối.

---

Lên đò thì đã qua canh tư. Hai mươi tư bơ muối chất giữa khoang, bốn bao đay căng tròn, thằng Tí nằm vắt ngang trên đống bao mà ngủ, mồm há ra, vẫn nắm vạt áo chị. Cái Mây ngồi trên mũi đò, chùi tro khỏi mặt bằng nước sông, cứ lát lại đếm lại trên đầu ngón tay. Nó quay sang hắn, mắt sáng, bao nhiêu mệt nhọc của hai đêm chạy đâu mất, cái răng khểnh lộ cả ra.

"Thiếu sáu bơ, mày ạ," nó nói. "Sáu bơ thì bán cả cái thuyền hỏng nhà tao, mai tao đi hỏi lão Bền. Sơn. Mày làm sao đấy? Bán được rồi kia mà?"

"Không sao."

"Mày có biết hôm nay mày làm gì không? Mày đứng giữa Chợ Ma, bảo bà Ba Nhớt là hãy ra giá cho đúng." Nó bắt đầu cười, cười không ra tiếng, người rung lên, rồi ngả hẳn ra đầu đò cười thành tiếng, nước mắt chảy ra. "Hãy ra giá... tám bơ... được... giời ơi là giời, cái mặt mày lúc ấy, mày nói chữ được như vua ban ân..."

Thằng Tí trở mình. Hắn nhìn nó. Trên vai nó, sợi cước vắt ngang, bên trong sợi cước ấy nó đang tự đi lên ván thuyền.

Hắn cười theo, không biết có giống không. Đã lâu lắm rồi hắn không tập.

Ông Hạc đứng ở lái, không nói gì từ lúc rời bãi, mái chèo đi vào nước không một tiếng. Được một quãng, ông cúi xuống cái hồ lô, uống một ngụm, mắt nhìn phía sau lưng cả bọn, lên chỗ mặt sông đen, nơi hai ngọn đèn vừa tắt cùng một lúc.

"Có thuyền theo, cậu ạ," ông nói. "Hai chiếc. Từ lúc mình rời bãi."

Ông đậy cái hồ lô lại.

"Tôi là lái đò, tôi biết gì."