Chương 8: Mười bơ muối dưới bếp
Thuộc tiểu thuyết Trọng Sinh Dưới Chân Núi Tản
Tác giả: Trần Phong · Thể loại: Huyền Huyễn · Đăng ngày · 2161 từ · khoảng 11 phút đọc
"Bán thuyền," bà nói.
Bà ngồi ở bậc cửa từ lúc hắn đặt mấy bao muối xuống nền nhà. Bà đã sang bên kia rào từ sáng sớm, bó lại cái chân cho thằng Tí bằng lá gì đó trộn với cơm nguội, chửi hắn vì bó nẹp lỏng một bên rồi lại không nói gì khi thấy các mảnh xương đã nằm đúng chỗ. Về đến nhà, bà không hỏi một câu về ông Cụt. Cả bến lúc này đang rì rầm chuyện ông Cụt, có người khóc, có người thắp hương ở bến, bác Cả Bền đứng giữa sân phơi cá nói to rằng thằng ranh nhà bà Nhàn sắp làm cả làng chết chìm. Bà chỉ nhổ bã trầu, nhìn ra sông, tính.
"Mười hai bơ," bà nói. "Hai mươi của con Mây, mười của nhà mình, ba mươi. Mày có mười tám. Mười hai bơ, cả bến này không ai cho vay đâu, đừng có đi hỏi, nhà ai cũng chết cả nút. Lão Bền có lẽ trả được mười hai bơ cho cái thuyền nhà mình. Bán."
Hắn ngẩng lên.
Cái gì đó trong đầu hắn vừa đứng dậy. Cái thuyền nan. Hắn đã đọc cái câu ấy, nằm cuối cuốn sổ của một đệ tử xuống làng hỏi thăm giùm hắn một trăm năm sau: bà cụ bán thuyền năm trước đó, đóng lễ nước cho xong, từ đó sống bằng nghề vá lưới, mùa nước không có việc, không có thuyền, chết đói. Năm lễ nước đôi. Năm hắn lên núi, mà không hỏi bà lấy đâu ra muối.
Trên người bà chưa có sợi cước nào, chuyện của bà còn xa. Giữ lại một con thuyền có tính là đổi được gì không, hắn không biết.
"Không bán," hắn nói.
"Mày có mười hai bơ à?"
"Không bán thuyền, bà."
"Thế chuộc con Mây bằng cái gì? Bằng cái mồm mày? Tao ở bến này bảy mươi mốt năm rồi, tao chưa thấy ai nộp lễ bằng mồm, có mỗi ông nội mày ngày xưa định thử, về nằm ba tháng..." Bà dừng lại. Hắn đang nhìn bà, và hắn không biết cái mặt mình lúc ấy trông thế nào. Bà nhìn lại, cái lưng còng im lìm, hai con mắt già nua đi qua mặt hắn từ trái sang phải như đang đọc một cái gì đó, mồm vẫn ngậm trầu mà không nhai.
Lâu lắm.
Rồi bà thở ra đánh phù một tiếng, chống tay đứng dậy, chậm rãi đi vào bếp. Bà lấy cái nồi xuống, gạt tro, quỳ xuống, cái đầu gối kêu một tiếng, và hai bàn tay to nứt nẻ ôm lấy hòn đầu rau bên trái.
"Vào đây giúp tao một tay. Thằng ranh. Đứng ngây ra đấy."
Hai bà cháu nhấc hòn đá ra khỏi chỗ của nó. Nó nặng hơn cái mắt thấy, tay hắn mát đi. Bên dưới là đất nện. Bà lấy con dao vá lưới, cạy một miếng đất phẳng lì không ai nhận ra là cái nắp, thò cả cái cẳng tay xuống, mò, và lôi lên một cái hũ sành đen, miệng buộc lá chuối đã khô.
Bà đặt nó lên nền nhà, ngồi bệt xuống, thở một lúc, rồi mở ra.
Muối trắng đục, cục lại với nhau, thơm mùi tro và mùi lá, đầy tới cổ hũ.
"Mười bơ," bà nói. "Mày không phải đếm, tao đếm rồi, năm nào tao cũng đếm. Mỗi năm một bơ, có năm phải nhịn cả mùa mới đủ. Mười năm. Từ hồi bố mày chết."
Hắn nhìn cái hũ, nghe rõ tiếng con gà nhà ai đang cục tác bên ngoài. Hắn nghe tiếng mình hỏi:
"Để làm gì hả bà?"
"Làm gì. Mày hỏi làm gì." Bà gõ vào cổ hũ, nghe tiếng cóc cóc. "Con trai lớn là phải lấy vợ. Cái thân mày thì ai lấy, nhà không có một cái gì, tao phải có mấy bơ muối để cầm sang nhà người ta chứ, không lẽ đi hỏi vợ cho cháu bằng cái mồm. Tao để dành từ lúc mày còn đái dầm. Đừng có nhìn tao như thế, có phải tiền đâu, muối thôi mà. Nhịn ăn mặn cũng được, ăn nhạt sống lâu. Tao định bụng đợi con Mây nó lớn thêm tí nữa, rồi... thôi, nói làm gì."
Mười năm. Năm nào cũng có một mùa giáp hạt, có những năm trong chạn không còn gì. Có những lúc bà quay lưng lại, nhai trầu, một tay giữ ngang bụng. Tao ăn rồi.
Trong cái sổ của đệ tử kia còn một câu nữa, hắn đọc lúc đó cũng không để ý: khi hàng xóm chôn cụ, thấy dưới bếp có một hũ muối mười bơ, không ai biết cụ để làm gì.
Bà sẽ chết đói, hai năm nữa, nằm cách cái hũ này hai sải tay, để dành nó cho thằng cháu cưới vợ, trong khi thằng cháu đang ở trên núi tu tập, ngồi uống nước.
Một người sống ngần ấy năm vẫn có những chuyện không biết đặt mình ở đâu. Hắn cúi xuống. Hắn cảm thấy cái trán mình chạm vào nền đất, cạnh cái hũ, không biết từ lúc nào, đầu gối đã xuống, hai vai rung. Từ thuở lên núi chưa có ai được thấy Tản Sơn chân nhân quỳ.
"Đấy, tao biết ngay mà," bà nói, cái giọng rất bực. Một bàn tay ráp như vỏ cây đặt lên sau gáy hắn, ngón cái miết qua cái sẹo nhỏ, rồi đẩy nhẹ một cái. "Thôi. Đừng có khóc vào muối, mặn sẵn rồi. Dậy đi, đem mười bơ này cộng với mười tám của mày, hai mươi tám. Con Mây đủ. Nhà mình còn thiếu hai bơ thì tao bán cái nồi đồng vậy, thuyền thì không bán nữa, được chưa? Dậy. Ăn đi rồi hẵng cãi."
---
Bà chưa kịp bán nồi.
Chiều đó bà đi ra cửa đổ nước vo gạo và kêu lên một tiếng. Trên bậc cửa có hai gói lá chuối, buộc gọn, đặt ngay ngắn. Bà ngửi, nếm một đầu ngón tay. Muối, đong đầy hai bơ, phẳng miệng, không rơi hạt nào. Hắn chạy ra, nhìn ngược nhìn xuôi con đường đất, chỉ có mấy con gà, lũ trẻ, ông Tư Cọc đi về phía bãi, và ở tít đầu đường có một cái bóng áo vải lành rẽ vào nhà ông Diêm, tay xách cái giỏ không.
"Lão Hạc," bà nói, ôm hai gói vào ngực. "Hay ông Tư. Ông Tư thì có gì đâu mà cho... hay cái thằng lái đò. Thôi kệ, trời cho."
Hắn còn đứng đó, nhìn con đường, cảm thấy trong bụng có cái gì đó như nuốt phải xương cá.
Đủ ba mươi, một bơ không thừa.
---
Đêm xuống. Đêm mười bốn, trăng gần tròn.
Bà ngủ. Hắn ngồi vào xó bếp, đặt hai bàn tay lên ba hòn đá đã kê lại như cũ. Đã hai hôm nay hắn ngồi như vậy mỗi khi có chút rảnh, mỗi lần lấy được một ít. Đó là một phép thở do chính hắn nghĩ ra lúc đã già, đặt tên là Thở Bếp, không truyền cho ai: thở rất chậm, rất nhỏ, không kéo khí mà để khí tự vào, như người ngồi sát bếp không cần làm gì, cứ ấm lên. Hắn không nghĩ tới cái chân thằng Tí. Hắn nghĩ tới cái chân thằng Tí. Hít vào, thở ra.
Tới canh hai, có một chỗ dưới rốn hắn tự dưng ấm lên, một đốm nhỏ, như hòn than đỏ giữa đống tro. Hơi ấm ấy loang ra một chút, đi tới đầu ngón tay, đầu ngón chân, làm cái lạnh của mấy đêm ngâm nước từ từ rút ra khỏi xương. Bậc một, Nhóm Khí. Thân thằng nhóc này hợp với đá núi đến mức lạ lùng, đời cũ lên tới đây hắn mất ba tháng trên núi. Từ giờ trở đi, Cai Ngạnh không vỡ sọ hắn được bằng một đấm. Hai đấm.
Xong hắn đứng dậy đi ra khỏi nhà, vì còn một việc.
Cửa nhà ông Trùm không cài, ở bến Ngọc chẳng ai cài cửa, có gì đâu mà lấy. Ông Trùm Lạc giữ một cái hòm gỗ đen dưới gầm phản, trong đó có sổ đinh của bến và giấy tờ của Hội Đò từ mấy đời. Lúc chiều hắn đã sang xin xem, ông run run bảo đấy là giấy của trên, thế là giờ hắn cứ lấy. Hắn thở theo đúng nhịp ông già ngáy, nhấc nắp hòm, đưa tay xuống.
Tờ trát năm nay nằm trên cùng, bản sao đóng dấu cho đầu bến giữ, dưới một chút là tờ của năm ngoái. Hắn cầm hai tờ đi ra sau nhà, tới chỗ có trăng, ngồi xổm xuống.
Hắn đưa tờ năm nay lên soi. Cái ấn vuông màu xanh sẫm, ba làn sóng, chín ngọn, nét sắc, đẹp, không chê vào đâu được. Hắn đưa nó lại gần mũi.
Không hiểu sao hắn làm vậy, có lẽ vì mấy ngày nay hắn sống bằng mũi, mùi bùn, mùi muối, mùi cá. Hắn ngửi vào cái ấn, và đầu gối hắn nhũn ra.
Nhựa thông.
Rất nhẹ, lẫn trong mùi giấy dó, ngọt, hăng, chạm vào đúng cái chỗ sau trán, nơi ba ngày cuối đời cũ nằm phẳng lì. Trong một nháy mắt có tiếng chuông đá gõ ba nhịp, chậm rãi. Dạ dày hắn lộn lên, và hắn nôn thật, ngồi xổm sau nhà ông Trùm, nôn ra chút nước đắng, người run từng cơn, cái run hoàn toàn khác cơn đói.
Một lúc lâu, hắn lau miệng, ngồi đó thở. Không có gì nữa, khoảng phẳng lì vẫn phẳng lì. Hắn cầm tờ năm ngoái lên ngửi, chỉ thấy mùi bùn phù sa, rất cũ.
Hai trăm mười bảy năm đọc giao ước với Thủy Phủ, hắn biết một điều về ấn của họ, điều mà dân bến không biết, quan Hội Đò cũng chẳng biết, vì nước mưa hắt lên giấy chỉ làm lem, phải ngâm chìm cả tờ quá ba nhịp thở mực mới nở, mà ai dám nhúng trát của Thủy Phủ xuống nước. Hắn chạy ra mép bãi, vốc một vốc nước sông, trở lại, nhỏ một giọt lên góc cái ấn năm ngoái, một giọt lên góc cái ấn năm nay. Rồi hắn ngồi xem.
Hắn ngồi trong bóng trăng rất lâu, mỗi tay cầm một tờ giấy. Trên đỉnh Tản có một thứ mực xanh đen, mài từ than thông già trong rừng sau chính điện pha với chàm núi, chỉ một phòng trên núi được dùng. Cái chữ đẹp nhất đời hắn từng viết là bằng thứ mực ấy.
Vậy là kẻ gấp đôi lễ nước, kẻ đẩy cái Mây xuống thuyền, không ở dưới sông. Hắn gập hai tờ giấy lại, cất vào bụng, cạnh sợi dây.
Sợi dây. Hắn rút nó ra.
Nếu mai hắn thắng, sợi cước trên vai cái Mây sẽ tắt. Hắn biết rõ giá. Hắn sẽ không còn nhớ dòng sổ nào cả, sẽ không biết vì sao có ngày hắn từng ngồi đây. Hắn đi về, ngồi xuống bậc thềm nhà mình, cạnh bờ rào dâm bụt, nhìn sang. Trong nhà bên có ngọn đèn nhỏ, cái bóng con Mây đang cúi bên em nó, cầm cái gì đút từng thìa. Thằng Tí rên một tiếng.
"Mày ngồi đấy làm gì?"
Nó đã ra đứng ở bờ rào từ lúc nào, tay cầm cái bát không, tóc xoã, mắt thâm quầng. Hôm nay nó chưa nói với hắn câu nào.
"Không ngủ được."
"Muối đủ rồi à? Bà mày bảo đủ."
"Đủ."
Nó gật. Nó đứng đấy một lúc, gõ gõ móng tay vào miệng bát.
"Nếu mai ông quản có giở trò," nó nói, "tao vẫn đi. Mày đừng làm gì. Mày hiểu không? Thằng Tí thế này rồi, tao không muốn tính thêm cái gì nữa. Mày cứ ở nhà với bà, trông nó hộ tao mấy tháng đầu. Tao hỏi mày đấy, tao hỏi đàng hoàng. Được không?"
Hắn nhìn nó. Hắn nhìn lâu tới mức nó nhíu mày, đưa tay lên sờ mặt xem có dính gì không. Hắn cố nhớ cho thật rõ tất cả những gì sắp không còn, rồi hắn biết rằng chẳng có gì để giữ cả, nhớ mạnh tới đâu thì mai cũng tuột.
"Không được," hắn nói.
Cái Mây thở ra một hơi, gần như một tiếng cười, mệt lả.
"Biết ngay," nó nói, rồi đi vào.
Ngón tay hắn buộc thêm một nút vào sợi dây, ngay sau tên nó, nút chặt nhất từ trước tới giờ, kéo căng tới khi rớm máu. Một lời nhắn cho người lạ ngày mai: Đừng rời.
Phía bờ sông, tiếng tù và đầu tiên của ngày rằm vọng lại từ khúc quanh, lúc trời chưa sáng.