Chương 9: Hai tờ trát trên mặt sông

Thuộc tiểu thuyết Trọng Sinh Dưới Chân Núi Tản

Tác giả: · Thể loại: Huyền Huyễn · Đăng ngày · 2256 từ · khoảng 11 phút đọc

Lễ nước ở bến Ngọc bắt đầu bằng một mâm xôi, một con gà, và tiếng ông Trùm khấn run run về phía sông. Xong phần đó là tới phần cái cân.

Sân phơi cá đã dọn sạch từ sớm. Ông quản Lý Thu Hoạch ngồi sau một cái bàn thấp kê dưới mái che, sổ da lươn mở sẵn, áo the hôm nay còn sạch hơn hôm trước. Cái thuyền mui đen đã có bánh lái mới, đậu sát bãi. Cai Ngạnh đứng sau lưng ông, một bên mặt bầm, cổ chân quấn giẻ, cái áo chàm mới cứng, dao mới, và từ lúc xuống bến gã chưa rời mắt khỏi một chỗ. Chỗ đó là một thằng nhóc gầy đứng cuối hàng, cúi không được đúng cách lắm.

Từng nhà lên, nhà thì đội thúng, nhà gánh bao, góa Bưởi mang ra một cái gói bé bằng bàn tay, đứng khóc ngay trước bàn. Ông quản đọc tên, đọc số, đầy đủ thì gạch một đường, thiếu thì ghi một dòng, cả hai việc ông làm bằng cùng một vẻ mặt.

"Nhà bà Nhàn. Mười bơ."

Bà tự mình đi lên, lưng còng, hắn vác bao theo sau. Ông Diêm được thuê giữ cân, đặt từng bơ lên cái cân đòn, đọc to. Đủ. Ông quản gạch một đường, ngẩng lên nhìn bà, hơi có vẻ ngạc nhiên, rồi nhìn hắn lâu hơn một chút.

"Nhà ông Vạc, cháu Mây. Khế đổi người, đến hạn."

Cả sân lặng đi. Cái Mây bước lên, áo nâu sạch, tóc tết gọn. Nó cõng hai mươi bơ muối bằng hai chuyến, tự nó, không cho ai đỡ, đặt bao xuống trước bàn. Tiếng ông Diêm đọc đều đều giữa cái sân không ai thở: một, hai, ba. Tới hai mươi, ông ngẩng lên, vẻ mừng mà không dám mừng.

"Thưa ông quản, hai mươi bơ đầy."

Có tiếng xì xào lan ra, nhẹ, nhiều người ngẩng mặt lên. Bên kia sân, thằng Tí được đặt trên cái chõng tre có người khiêng ra, chân bó nẹp, mặt xanh như tàu lá, mắt mở thao láo, thằng Trạch đứng cạnh giữ cái chõng cho khỏi nghiêng.

Cái Mây thẳng người lên, trên mặt có một nụ cười rất nhỏ, chưa dám nở hẳn.

"Thưa ông, cháu chuộc," nó nói.

Ông quản nhìn đống bao một lúc, rồi cúi xuống nhìn sổ, rồi nhìn đống bao thêm lần nữa.

"Muối thì tôi nhận," ông nói. "Đây là lễ của nhà ông Vạc, ba năm nợ cộng năm nay. Tốt. Gạch." Ngòi bút rít khẽ trên giấy. "Còn khế là khế."

Ông rút trong sổ ra một tờ giấy, đặt lên bàn, xoay về phía nó. Ở cuối giấy có một vết ngón tay cái màu đỏ nâu, bé.

"Khế này điểm chỉ rồi. Trong khế ghi đổi người, không ghi chuộc. Cháu không đọc được chữ thì nhờ ông Trùm đọc."

Nụ cười trên mặt cái Mây đứng lại đúng chỗ đó. Ông Trùm Lạc run lẩy bẩy đi lên, cúi xuống tờ giấy, miệng mấp máy, rồi ngẩng lên, mắt sợ hãi, không nhìn ai.

"Bẩm... lệ xưa... lệ xưa thì..."

"Lệ là lệ, khế là khế. Sổ nói thế." Ông quản gập cuốn sổ lại, rất nhẹ. "Bà con đã nộp đủ, tôi rất cảm ơn. Cháu lên thuyền đi."

Hơn trăm người cùng nuốt nước bọt một lúc, nghe được thành tiếng. Cái Mây vẫn đứng thẳng, từ từ quay đầu lại. Nó không nhìn thằng Tí. Nó nhìn thẳng tới chỗ hắn, chẳng oán trách cũng chẳng cầu cứu, nhìn như người ta nhìn xem đống đồ mình để lại đã xếp gọn chưa.

Hắn chờ chính điều này. Hắn đã viết nhiều tờ khế như thế, biết quản Hoạch không ngu tới mức để một đứa bán thân mà cho chuộc.

Hắn bước ra khỏi hàng, đứng thẳng lưng. Bà véo vào tay hắn. Lần này hắn gỡ bàn tay ấy ra, siết nhẹ một cái, rồi đặt nó xuống.

"Thưa ông quản," hắn nói. "Cháu có một việc không hiểu, xin ông quản chỉ cho."

Lần này hắn không dùng cái giọng ấy. Hắn đã tập từ đêm qua: lễ phép, hơi ngu, giọng thằng nhóc kéo lưới. Cả bến quay lại, mấy đứa thanh niên nhận ra thằng "hãy lui". Ông quản nhìn hắn, đôi mắt rất điềm đạm, loại mắt không nóng lên bao giờ.

"Cháu là thằng cháu bà Nhàn."

"Dạ. Cháu hỏi: khế này ghi đổi người để trừ nợ lễ nước, đúng không ạ?"

"Đúng."

"Số nợ đó tính theo trát năm nay, gấp đôi lệ thường, đúng không ạ?"

"Đúng."

"Thế trát mà sai, thì khế có sai không ạ?"

Cai Ngạnh bật ra một tiếng cười, tiếng cười ấy to một mình giữa sân. Ông quản thì không cười. Ông nghiêng đầu một chút, có vẻ thấy thú vị, đúng như người cuối ngày dài bỗng gặp một con số lạ.

"Trát này có ấn của Thủy Phủ, cháu ạ. Cháu định bảo Thủy Phủ sai?"

"Dạ cháu không dám. Cháu chỉ nghe các cụ bảo ấn thật khác ấn giả ở chỗ gặp nước. Cháu ngu, không biết có đúng không. Cháu xin thử trước mặt ông quản, thử tờ năm nay với tờ năm ngoái. Tờ của Thủy Phủ, ông quản biết rồi, có gì đâu mà ngại ạ. Nếu không có gì, cháu xin chịu đánh."

Câu "có gì đâu mà ngại" hắn đã nghĩ rất lâu. Ba ngày nay hắn đọc được thứ duy nhất đáng đọc ở người này: ông ta tin vào sổ. Ông ta nộp lên đủ số, nhận xuống đúng giấy, tờ trát tới tay từ Trạm thu thì đọc và thu, giả hay không ông ta chưa từng nghĩ tới, vì trong đầu ông ta việc đó không có cột nào để ghi. Và trước mặt cả bến, một ông quản Hội Đò sẽ không chịu tỏ ra ngại một thằng nhóc.

Hắn rút hai tờ giấy từ trong áo ra. Ông Trùm kêu ối một tiếng nhỏ. Mắt ông quản dừng ở đó, rồi chuyển lên mặt hắn, và lần đầu có một cái gì đó thay đổi trong ánh nhìn, rất ít.

"Giấy của đầu bến," ông nói. "Cháu lấy lúc nào?"

"Dạ đêm qua ạ."

Ngón tay ông gõ nhẹ lên cuốn sổ, ba nhịp thở.

"Ông Trùm giữ giấy không cẩn thận, tôi sẽ ghi. Cháu cứ thử đi. Xong rồi tôi cho cai Ngạnh đánh ba mươi roi, tại sân này. Hai mươi vì hỗn với trát, mười vì tội lấy giấy."

Hắn đi xuống mép nước, cách cái bàn chừng hai chục bước, cả sân đi theo hắn bằng mắt, rồi bằng chân, người đông dần ra sát bờ. Trời hôm ấy nắng trắng, sông phẳng, xanh lơ đục. Hắn ngồi xuống, cầm mỗi tay một tờ, giơ lên cho thấy cái ấn, rồi thả cả hai xuống nước, giữ bằng đầu ngón tay ở một góc.

Một nhịp. Hai nhịp. Tờ giấy dó ngấm nước, mềm xuống, nổi lờ lững trên mặt sông. Ba nhịp. Cạnh hắn, một đứa trẻ con vừa nói "Có gì đâu" thì bị mẹ nó bịt mồm.

Ở tờ bên trái, từ bốn cạnh của cái ấn, một thứ màu xanh sẫm bắt đầu nở ra. Nó lan chậm, mịn, trong nước, từng nhánh như rễ cây đang mọc, ba làn sóng phình to lên, sống dậy, cả cái dấu vuông to gấp đôi, sâu thẳm, gần như đang thở. Một bà già đứng gần kêu "Lạy Mẫu" rồi quỳ sụp xuống.

Ở tờ bên phải, cái ấn năm nay vẫn nằm yên y nguyên, vuông vắn, gọn gàng, trơ một miếng vá.

Hắn nhấc cả hai tờ lên, đứng dậy, quay lại, nước nhỏ tong tỏng. Hắn giơ chúng lên ngang đầu, cho tới người đứng xa nhất cũng thấy được, một tờ xanh đậm loang rộng, một tờ không có gì.

"Tờ năm ngoái bên trái," hắn nói, giọng không to, cả bến đủ yên để nghe. "Tờ năm nay bên phải."

Không ai nói gì. Người ta nhìn hai tờ giấy, nhìn nhau, nhìn về phía cái bàn. Chẳng ai dám hiểu thứ mình vừa thấy, cái bến này đã cúi đầu mấy đời nay rồi.

"Tà thuật!"

Cai Ngạnh rống lên. Gã đã nhịn từ sáng hôm qua, từ cái đá neo, từ cả bến cười. Gã lao qua sân, đám đông dạt ra như sóng trước mũi thuyền, nắm tay to bằng cái chày, trong đó thủy khí đang xoáy lên, nhắm thẳng tới chỗ hắn. "Thằng chó con, tao giết mày!"

Hắn đã tính cả chuyện này. Hắn mới Nhóm Khí, một đấm có thể đỡ được bằng vai, gãy xương nhưng không chết, rồi...

Có cái gì đó bé và còng đã bước vào giữa hai người.

Bà. Chẳng biết từ đâu ra. Cái lưng còng quay về phía hắn, tấm khăn vuông, và một tay bà giơ lên, cầm cái gáo dừa từ bao giờ không biết, hướng về phía một gã đàn ông to gấp ba, đang lao tới với cả một dòng sông trong nắm đấm.

Trong đầu hắn không còn cái gì nữa cả, chẳng còn tính toán, chẳng còn nước cờ.

Có một thứ gọi là Bước Núi. Bậc tám mới dùng được, nó đặt thân người vào một điểm trên mạch đất mà không qua khoảng giữa. Thằng nhóc này có một đốm than dưới rốn, kinh mạch mảnh như sợi chỉ, không có thân nào như thế dùng được Bước Núi.

Hắn bước.

Mọi người ở sân hôm ấy nói thằng Sơn trượt chân, đang ở cách đó sáu bước mà ngay sau đó đã đứng trước bà nó, một tay ôm vai bà đẩy ra phía sau. Tiếng rách đi qua người hắn từ gót chân lên đến ót, như xé một tấm vải mục dài suốt thân. Nắm đấm của Cai Ngạnh đập vào vai trái hắn, hắn nghe tiếng xương, rồi hắn bay đi.

Hắn nằm ngửa, bầu trời trắng, cả mồm toàn vị sắt. Hắn nghiêng đầu, phun ra một ngụm gì đó đỏ thẫm vào cát.

Không có tiếng đấm thứ hai. Hắn gượng ngóc đầu lên. Trước mặt Cai Ngạnh lúc này là bác Cả Bền, cầm cái tay quay tời bằng gỗ lim, chân hơi run. Bác không nói gì, chỉ đứng đấy, thở phì phò. Một lúc sau con trai bác bước ra đứng cạnh. Rồi ông Tư Cọc, một bên má còn tím, cầm cái cọc tre. Rồi góa Bưởi, tay vẫn nắm cái gói bé tí. Không ai hô gì, từng người một, chậm như nước lên, thành một hàng.

"Ngạnh," ông quản nói.

Không to. Gã đứng khựng lại như bị dây giật.

Ông quản Lý Thu Hoạch đã đi xuống tới bờ, từng bước không vội. Ông chìa tay cầm lấy tờ trát ướt từ bàn tay rũ xuống của thằng nhóc, đưa lên, nhìn cái ấn, xoay nghiêng, đưa sát mũi. Rồi ông làm một việc chẳng ai ngờ tới. Ông mở cuốn sổ da lươn, lật tới tận cuối, rút ra một mảnh giấy nhỏ đã ố vàng có một cái dấu vuông, thứ biên nhận của Thủy Phủ ông giữ từ ngày được lên quản, ngồi xổm xuống mép nước, áo the quệt vào bùn, và tự tay nhúng một góc của nó xuống sông.

Cả bến đứng nhìn ông quản đợi.

Một vệt xanh sẫm nở ra từ góc giấy.

Ông nhìn nó rất lâu. Đứng gần như thế, hắn thấy mồ hôi trên mép ông, rất nhỏ, một hàng hạt. Trong đầu người này lúc ấy, hắn biết rõ, đang có những cột số chạy: mấy chục bến, bao nhiêu thúng muối, bao nhiêu đứa trẻ đã lên thuyền bằng tờ giấy này, dưới tên ông, ghi ở sổ của ông.

Ông đứng dậy, gấp tờ trát lại làm tư, cất vào trong áo. Rồi ông quay về phía sân, nói bằng đúng giọng đọc kinh:

"Thưa bà con. Trát năm nay có chỗ sai sót của người chép. Tôi sẽ trình lên trên. Năm nay nộp theo lệ cũ, phần nộp thừa tôi trả lại."

Ông bước về phía bàn, cầm tờ khế có ngón tay cái bé tí màu đỏ nâu, nhìn nó một chút, rồi xé đôi, xé làm tư, thả các mảnh xuống cái thùng đựng rác cá.

Ông ấy bảo tiếng hét sau đó nghe được từ bên kia sông.

Hắn nằm dưới đất, không dậy nổi, nghiêng đầu nhìn qua những cái chân người đang chạy. Có người khóc, có người ôm nhau, góa Bưởi ngồi bệt xuống đất cười. Thằng Trạch đang cúi xuống cái chõng, nói gì đó với thằng Tí, thằng Tí nhe cái lợi mất răng. Hắn tìm thấy cái Mây. Nó vẫn đứng nguyên trước cái bàn, nơi ông quản vừa đi khỏi, hai tay buông thõng, nhìn vào cái thùng rác. Một vệt nắng trắng đang nằm trên vai nó.

Sợi cước căng lên, sáng lên một chớp, sáng hơn tất cả những gì hắn từng thấy, rồi đứt.

Lần này tiếng tuột dài, rất dài, sau trán hắn, từng hàng từng hàng, sột sột sột sột, kéo đi cả một mảng lưới lớn, xuyên qua năm tháng, chạy mãi không hết, và hắn nằm đó không cử động được, bàn tay phải nắm vào cát, mắt mở, nhìn theo nó đi.