Chương 14: Xin bà Bảy ba tuần, không có cọc
Thuộc tiểu thuyết Tu Tiên Giữa Mạt Thế Sài Gòn
Tác giả: Hải Đăng · Thể loại: Mạt Thế · Đăng ngày · 1607 từ · khoảng 8 phút đọc
Còn một trăm bảy mươi ngày. Dì Bảy về tiệm lúc bốn giờ chiều thứ Sáu, và Minh Phong đã ngồi chờ ở quán cà phê đối diện từ ba giờ.
Anh chờ vì một lý do đơn giản: người ta không bán tiệm cho một thằng hai mươi hai tuổi đi ngang qua. Người ta bán tiệm cho một người đã đứng đúng chỗ đó vài lần.
Đây là lần thứ ba trong bốn ngày.
Bà chừng năm mươi lăm, thấp, tóc uốn, đi dép lê, tay xách một cái giỏ cói. Bà vào tiệm, đặt giỏ xuống, và việc đầu tiên bà làm là nhìn cuốn sổ cạnh cân bàn.
Ngân Thảo nói gì đó. Bà gật, rồi bà nhìn ra ngoài đường, đúng hướng quán cà phê.
Minh Phong trả tiền nước và đi qua.
"Con chào dì."
"Chào con." Bà Bảy nhìn anh, không giấu chuyện đang đánh giá. "Con là thằng nhỏ hôm bữa hỏi con Thảo mấy câu chứ gì."
"Dạ."
"Ngồi." Bà chỉ cái ghế nhựa. "Con hỏi gì hỏi đi. Đứng vòng vòng ngoài đường ba bữa rồi."
Anh ngồi xuống.
"Dạ con nghe nói dì sang tiệm."
"Ai nói?"
"Con đoán."
Bà Bảy nhìn anh, rồi bật cười một tiếng khô.
"Đoán bằng gì?"
"Dạ bằng ba bao hoàng liên nằm ba tháng, một bóng đèn cháy không thay, và cái gác lửng mà con Thảo không muốn ai nhìn lên."
Bà Bảy thôi cười.
Trong tiệm, Ngân Thảo đứng dậy, định nói gì đó, nhưng bà dì đưa tay ra hiệu và con bé ngồi xuống lại.
"Con làm nghề gì?"
"Dạ con sinh viên."
"Sinh viên." Bà lặp lại. "Sinh viên mà đi coi giò coi cẳng cái tiệm người ta."
"Dạ con muốn mua tiệm."
Câu đó ra rất gọn, và sau nó thì trong tiệm im hẳn. Cái quạt máy quay ngang mặt kêu rè một tiếng ở cuối vòng.
"Con có tiền không?" Bà Bảy hỏi.
"Dạ chưa có."
"Vậy con nói chuyện gì với dì?"
"Dạ con nói về ba tuần." Anh nói. "Con xin dì ba tuần."
Bà Bảy tựa lưng vào ghế, khoanh tay.
"Dì nghe."
Minh Phong ngồi thẳng.
"Dạ dì sang tiệm là vì hàng nằm, phải không dì. Không phải vì tiệm ế." Anh nói. "Ế thì bốn tiệm đầu đường cũng ế. Mà bốn tiệm đó nhập hàng giữa tuần, nghĩa là họ xoay vòng vốn nhanh hơn dì."
Bà Bảy không nói gì.
"Dạ dì đang kẹt bao nhiêu?"
"Ai đời hỏi câu đó."
"Dạ con hỏi vì con phải biết con mua cái gì." Anh nói. "Dì không nói cũng được. Nhưng dì không nói thì con phải trừ hao, mà trừ hao thì con trả giá thấp hơn."
Bà Bảy nhìn anh khá lâu.
Bên ngoài, một chiếc xe máy chở hai bao tải chạy ngang, thùng xe nghiêng về một bên. Trong tiệm, cây quạt quay hết một vòng rồi quay ngược lại. Bụi thuốc bắc bay lơ lửng trong vệt nắng xiên từ cửa vào, và ở chỗ vệt nắng chạm nền xi măng có một vết ố hình móng ngựa mà chín năm chùi rửa không hết.
"Ba trăm hai." Bà nói. "Nợ mối hàng ngoài Bắc hai trăm, còn lại là tiền nhà."
"Dì thiếu tiền nhà mấy tháng?"
"Hai."
"Hợp đồng thuê còn bao lâu?"
"Còn hai năm bốn tháng. Giá cũ." Bà nói, và ở chữ *giá cũ* thì giọng bà đổi. "Chỗ này dì thuê chín năm rồi. Chủ nhà là chỗ quen."
Minh Phong ghi hai chữ *giá cũ* vào đầu.
Đó là thứ đắt nhất trong toàn bộ cái tiệm này, và bà Bảy vừa nói ra nó mà không biết mình vừa nói ra cái gì. Một mặt bằng bốn mét ngang, mười lăm mét sâu, có gác lửng, nền cao, ở giữa phố dược liệu, giá thuê chín năm trước.
Trong một trăm bảy mươi ngày nữa, cái hợp đồng ấy đáng hơn toàn bộ hàng trong tiệm cộng lại.
Anh đã thấy chuyện gì xảy ra với mặt bằng ở thành phố này sau va chạm. Ba tháng đầu, không ai đòi tiền thuê được của ai, vì chủ nhà đã đi hoặc đã chết. Tới tháng thứ tư, khi các khu bắt đầu có người quản, thì thứ quyết định ai được giữ chỗ nào là giấy tờ — không phải giấy tờ đúng luật, mà giấy tờ có trước ngày trời sập. Người cầm được một tờ hợp đồng ghi ngày cũ thì được công nhận. Người không có thì bị coi là chiếm.
Anh đã nhìn hai gia đình bị đuổi ra khỏi một cái nhà kho họ ở suốt bốn tháng, chỉ vì có người khác chìa ra được một tờ giấy.
"Dì tính sang bao nhiêu?"
"Người ta trả dì bốn trăm." Bà nói. "Cả hàng. Mà trả kiểu trả góp, ba đợt."
"Ai trả?"
"Thằng cha tiệm thứ hai đầu đường."
"Ổng trả góp ba đợt là ổng đang canh dì kẹt." Minh Phong nói. "Đợt một ổng đưa ít, dì trả nợ mối hàng xong thì hết. Đợt hai ổng khất. Tới đợt ba thì dì hết đường lùi rồi, ổng ép giá."
Bà Bảy im.
Ngân Thảo, sau cân bàn, đã bỏ hẳn cuốn sổ xuống.
"Con nói vậy là con biết ổng?" Bà Bảy hỏi.
"Dạ không. Con không biết ổng." Anh nói. "Con chỉ biết cách trả tiền đó."
Anh đã thấy hàng trăm cuộc đổi chác dựng theo đúng cái khung ấy. Chia nhỏ, kéo dài, và bào mòn người yếu hơn ở đợt cuối. Khác nhau chỉ là thứ đem ra đổi: khi thì gạo, khi thì thuốc, khi thì người.
"Con đề nghị thế này." Anh nói. "Ba tuần nữa con quay lại. Con trả một lần, tiền mặt, hết. Không góp."
"Bao nhiêu?"
"Bốn trăm hai."
Bà Bảy nhướn mày.
"Con trả cao hơn ổng?"
"Dạ. Cao hơn hai chục." Anh nói. "Đổi lại con xin dì hai thứ."
"Nói."
"Thứ nhất: ba tuần này dì đừng ký với ai. Nếu quá ba tuần con không có tiền thì dì cứ bán cho ổng, con không giữ dì."
"Thứ hai?"
"Thứ hai là hợp đồng thuê nhà." Anh nói. "Con muốn dì dẫn con qua gặp chủ nhà, và sang tên hợp đồng cho con nguyên giá cũ, đúng thời hạn còn lại."
Bà Bảy nhìn anh.
Lần này bà nhìn lâu, và cái nhìn ấy không còn đánh giá nữa. Nó là cái nhìn của một người đang tính lại xem mình vừa nghe ai nói.
"Thằng cha kia cũng đòi cái hợp đồng đó." Bà nói.
"Dạ chắc chắn rồi."
"Nó là cái đáng tiền nhất trong tiệm này."
"Dạ con biết."
"Vậy sao con nói ra?" Bà Bảy hỏi. "Con giấu đi thì dì đâu có biết mà đòi thêm."
Câu hỏi ấy hay, và Minh Phong ngồi im một nhịp trước khi trả lời.
"Dạ tại vì con cần dì tin con trong ba tuần." Anh nói. "Con không có tiền cọc. Con chỉ có mỗi lời nói. Mà lời nói của thằng vừa giấu dì một chuyện thì không đáng ba tuần."
Bà Bảy gõ ngón tay lên mặt bàn ba cái.
Rồi bà quay sang cháu.
"Thảo."
"Dạ."
"Thằng này hôm bữa sửa cái máy cho mày, có lấy tiền không?"
"Dạ không." Ngân Thảo nói. "Ảnh trừ vô chai nước với hai viên thuốc."
Bà Bảy gật.
"Ba tuần." Bà nói với anh. "Dì không hứa gì hết, mà dì cũng không ký với ai trong ba tuần. Quá ba tuần một ngày là dì ký."
"Dạ con cảm ơn dì."
"Khoan." Bà giơ tay. "Còn cái này. Con mua tiệm rồi con định làm gì với hai đứa nhỏ?"
Minh Phong nhìn qua cân bàn.
Ngân Thảo đang giả vờ ghi sổ, và cây bút của nó đã dừng trên giấy từ nãy giờ.
"Dạ con thuê." Anh nói. "Cả hai. Con Thảo giữ quầy, chị nó giữ hàng. Lương trả theo tháng, cộng phần trăm doanh thu."
"Phần trăm bao nhiêu?"
"Dạ con chưa tính. Con sẽ nói con số trước khi con nói cái gì khác."
Bà Bảy đứng dậy, xách cái giỏ cói.
"Ba tuần." Bà nói lại. "Con tên gì?"
"Dạ con tên Phong."
"Ừ, Phong." Bà đi vào trong, rồi dừng lại ở chân cầu thang gác lửng, không quay đầu. "Trên gác còn tám bao nữa. Đương quy. Ba trăm bảy một ký, nằm từ tháng mười."
Rồi bà đi lên.
Minh Phong ngồi lại trên cái ghế nhựa.
Cầu thang gác lửng làm bằng sắt, bậc hẹp, và mỗi bước chân của bà Bảy làm nó kêu một tiếng khác nhau. Anh đếm được mười một tiếng trước khi tiếng chân dừng hẳn.
Rồi anh nhẩm nhanh.
Tám bao đương quy, tính trung bình hai lăm ký một bao, ở giá ba trăm bảy — thêm bảy chục triệu vốn chết nữa.
Bà vừa nói ra con số ấy khi đã chốt xong ba tuần. Nghĩa là bà không dùng nó để mặc cả. Bà nói vì bà muốn anh biết trước mình mua cái gì.
Anh đứng dậy, và trước khi ra khỏi cửa thì anh nói với vào trong.
"Dì Bảy."
"Gì con."
"Đương quy để trong bao tải không có hút ẩm thì sáu tháng nữa mốc." Anh nói. "Dì cho con Thảo mua mấy gói hút ẩm bỏ vô. Con trả tiền."
Trên gác không có tiếng trả lời ngay.
"Ừ." Bà nói, một lúc sau. "Ừ, con."