Chương 18

Thuộc tiểu thuyết Tu Tiên Giữa Mạt Thế Sài Gòn

Tác giả: · Thể loại: Mạt Thế · Đăng ngày · 2093 từ · khoảng 10 phút đọc

Còn một trăm bốn mươi tám ngày. Sáu giờ mười lăm sáng, anh kéo cửa cuốn.

Đường Phạm Ngũ Lão chưa đông. Tiếng cuốn kéo lên nghe rõ từng nấc. Anh chèn thanh sắt vào chân cửa, bắc ghế, tháo hai cái bóng đèn chết.

Bóng thứ nhất tháo ra còn nguyên, chỉ đen một đầu. Bóng thứ hai vỡ trong tay anh, kêu một tiếng khô. Anh gom mảnh vào tờ báo cũ, gấp hai lần, để riêng một góc chứ không bỏ chung sọt rác — người dọn rác cầm bao bằng tay không.

Hai bóng mới sáng lên. Cái tiệm không đẹp hơn. Nó chỉ hiện ra đủ để thấy chỗ nào bẩn.

Anh đứng giữa nền, nhìn một lượt. Ba bao hoàng liên bám bụi từ Tết. Cân bàn cơ khí mặt số vàng ố. Cái gác lửng tối, thang sắt mười một bậc, bậc nào cũng kêu.

Trong đầu anh, cùng một động tác đã có sẵn: thả thần thức xuống, quét một vòng, ra ngay cái gác lửng có bao nhiêu bao và bao nào mốc. Thần thức là cái nhận biết trải ra ngoài thân, đo được vật ở nơi mắt không nhìn tới. Mười năm anh dùng nó nhiều hơn dùng mắt.

Chỗ đó vẫn trống. Anh leo lên bằng thang.

Trên gác có mười một bao. Anh đếm bằng tay, ghi vào sổ, mất bốn phút.

Kim Thảo tới lúc sáu giờ bốn mươi, xách theo một túi ni lông đựng giẻ và một chai giấm trắng.

"Anh thay bóng rồi hả." Cô nói mà không nhìn lên trần. Cô nhìn cái sọt rác. "Bóng vỡ đâu?"

"Gói trong tờ báo, để góc kia."

Cô gật một cái, đặt túi xuống, rồi rút trong túi quần ra một tờ giấy gấp tư. Tờ giấy ghi kín hai mặt bằng bút bi xanh.

"Danh sách của em. Ba mươi mốt món phải bỏ, mười hai món cứu được nếu phơi lại trong tuần này. Bốn món em không biết là gì, anh với dì Bảy coi giùm."

Anh cầm tờ giấy. Chữ cô nhỏ, thẳng hàng, mỗi dòng có giá nhập ghi trong ngoặc.

"Chị ghi cả giá nhập cũ."

"Bỏ thì cũng phải biết mình bỏ bao nhiêu tiền." Cô đã bắt đầu vắt giẻ. "Không thì lần sau nhập lại y như cũ."

Anh gấp tờ giấy, bỏ vào túi ngực.

"Ba ngày nữa anh mới quay lại tiệm."

Cô ngừng tay.

"Tiệm mới mở."

"Anh biết."

"Anh mới bỏ ba trăm bảy mươi hai triệu vô đây hôm qua."

"Anh biết."

Cô đặt cái giẻ lên thành chậu. Nước nhỏ xuống nền hai giọt.

"Em không hỏi anh đi đâu." Cô nói. "Em hỏi cái khác. Ba ngày đó có phải là việc quan trọng hơn cái tiệm này không."

Anh có sẵn ba câu trả lời. Cả ba đều đúng một nửa và cả ba đều là câu nói cho xong.

"Có." Anh nói. "Anh đi tìm một cuốn sách."

Cô chờ.

"Người đưa cuốn sách đó cho anh đã chết. Anh nhớ cái ba lô của cậu ta. Anh không nhớ mặt cậu ta nữa."

Anh nói nó ra mà không cân trước, và biết mình không cân. Anh nghe lại nó trong không khí của cái tiệm và thấy nó không giống bất cứ câu nào anh đã nói với ai trong sáu tháng này.

Kim Thảo không hỏi tiếp. Cô nhặt cái giẻ lên.

"Ba ngày," cô nói. "Em giữ cửa. Anh về mà thấy thiếu món nào thì hỏi em, đừng hỏi con Thảo, nó không nhớ số."

Anh ra khỏi tiệm lúc bảy giờ mười.

Trong túi anh có tờ giấy A4 gấp làm tám, mở ra là bảng SÁU THÁNG viết hôm còn một trăm bảy mươi bảy ngày. Pha một: vốn. Anh đã gạch nó lúc bốn giờ hai mươi chiều hôm qua, gạch một nét, không viết thêm gì.

Pha hai nằm ngay dưới, ba chữ: THỦ BẢN.

Bên lề, chỗ ghi rủi ro, có ba chữ khác anh viết cách đây hai mươi chín ngày và chưa xoá.

Vũ Chí Thành.

Anh ngồi xuống ghế nhựa quán cà phê đầu hẻm, gọi một ly đen đá, và bắt đầu làm cái việc anh đã hoãn từ ngày về quê lần một.

Anh đi tìm cuốn sách trong đầu mình.

Nó hiện ra ngay, và hiện ra quá rõ. Bìa giấy bồi màu gan gà, bốn góc mòn tròn. Chỉ khâu gáy đứt hai đoạn, có người khâu lại bằng cước câu. Ba mươi bảy tờ. Trang thứ mười một có một vệt ố hình bàn chân, nước ăn mất bốn chữ ở góc dưới, và người chép đã viết bù bốn chữ ấy ra lề bằng mực khác màu. Trang cuối đóng một cái dấu son đã nhoè, chỉ còn đọc được nửa chữ trên.

Anh nhớ trọng lượng của nó. Ba trăm mấy chục gram. Anh nhớ mùi của nó — mùi giấy cũ trộn mùi dầu hoả từ cái đèn treo trong hầm.

Anh nhớ cái giá. Bốn trăm mười hai viên hạ phẩm. Linh thạch hạ phẩm là loại đá chứa linh khí thấp nhất, sau mạt thế nó thành thứ người ta dùng thay tiền; bốn trăm mười hai viên, cộng hai thứ không quy ra viên được, là gần hết những gì cả nhóm gom được trong chín năm.

Anh không nhớ mặt người bán.

Anh ngồi thẳng lên.

Chuyện này anh đã gặp một lần rồi, hôm anh mở trang xổ số ra và không có gì trong đầu. Ký ức đổ về cho anh là ký ức của một người đang cố sống sót. Nó ghi kỹ thứ anh cầm trong tay, thứ anh phải mang đi, thứ anh sợ mất. Nó không ghi thứ anh chỉ nhìn qua.

Anh đã cầm cuốn sách đó ba đêm liền. Anh chỉ nhìn người bán đúng một buổi.

Anh rút bút, lật mặt sau tờ SÁU THÁNG, kẻ một cột.

Không hỏi nó ở đâu. Hỏi nó đi qua tay ai.

Câu hỏi đổi, và ký ức mở ra chỗ khác.

Cuốn sách vào hầm trong một cái ba lô quân dụng màu xanh rêu, khoá kéo hỏng, buộc bằng dây dù. Người vác nó vào là Trình Diệu.

Anh dừng bút.

Trình Diệu là người trẻ nhất trong sáu người. Cậu ta chết ở lối phía đông di tích Bảy Núi, năm thứ mười, ngày thứ tư, vì có người báo lối đó trống. Trong ký ức của anh, cái ba lô xanh rêu ấy sống lâu hơn khuôn mặt của chủ nó.

Anh để cây bút xuống mặt bàn nhựa. Ly cà phê đá đã tan một nửa.

Anh nói ra thành tiếng, không to, đủ cho mình nghe.

"Xin lỗi."

Người bán nước ngẩng lên. Anh lắc đầu, đưa tay ra hiệu không có gì.

Rồi anh cầm bút lại.

Trình Diệu không sưu tầm sách. Cậu ta lấy nó ở đâu đó và mang về, và cậu ta có kể — mọi người trong hầm đêm ấy đều nghe, vì cả nhóm vừa mất gần hết chỗ linh thạch để dành và ai cũng muốn biết mình vừa mua cái gì. Người bán — cháu gì đó của chủ nhà, không dám vào lại Chợ Lớn — chỉ nhận đá và chỉ đường. Trình Diệu là người duy nhất trong nhóm vào tận nơi.

Anh nhắm mắt và moi ra được ba mảnh.

Mảnh thứ nhất: một căn nhà ống hai tầng ở Chợ Lớn. Cầu thang gỗ nằm giữa nhà chứ không nằm sát tường.

Mảnh thứ hai: tủ kính. Không phải một cái tủ. Cả một dãy tủ kính kê dọc tầng hai, và cuốn sách nằm trong cái thứ ba tính từ cửa sổ.

Mảnh thứ ba, và là mảnh Trình Diệu kể lâu nhất vì cậu ta thấy nó lạ: trên nóc căn nhà đó có một cái chuồng bồ câu xây bằng gạch, xây tử tế, có mái ngói riêng. Cậu ta nói cả dãy phố không nhà nào có cái đó.

Anh viết ba mảnh ấy thành ba dòng. Rồi anh viết dòng thứ tư, và dòng thứ tư mới là thứ đáng tiền.

Người sở hữu bộ tủ ấy chưa chết vào lúc này.

Trình Diệu vào căn nhà đó ở năm thứ chín. Cậu ta nói có một ông già chết trong phòng. Ông già chết sau ngày va chạm, không phải trước. Nghĩa là sáng nay, một trăm bốn mươi tám ngày trước khi trời sập, ông ta đang ngồi ở đâu đó trong Chợ Lớn, còn thở, và cuốn sách đang nằm trong cái tủ thứ ba tính từ cửa sổ.

Anh trả tiền cà phê, mười hai nghìn, và đứng dậy.

Từ Phạm Ngũ Lão xuống Chợ Lớn, anh đi xe Dream mất hai mươi lăm phút.

Anh không chạy thẳng vào đâu cả. Anh chạy vòng.

Ba dữ kiện của anh không dùng để tìm ra một địa chỉ. Chúng dùng để loại. Nhà ống hai tầng thì cả khu có hàng nghìn cái. Cầu thang giữa nhà thì đứng ngoài không thấy được. Còn chuồng bồ câu xây gạch trên nóc thì phải ngẩng lên mới thấy, và cả ngày hôm nay không ai ở Chợ Lớn ngẩng lên trừ anh.

Anh chạy Triệu Quang Phục hai lượt, Lương Nhữ Học hai lượt, cắt ngang bốn con hẻm rộng đủ cho xe máy. Anh đi chậm, sát lề, đầu ngước. Có người tưởng anh tìm nhà cho thuê và hỏi vọng ra. Anh nói phải, cảm ơn, rồi đi tiếp.

Tới hẻm thứ ba trên Lương Nhữ Học, anh dừng lại mua chai nước ở một bà cụ bán trước cửa nhà.

"Con tìm nhà hả." Bà cụ đưa chai nước, tay run.

"Dạ. Con tìm nhà có chuồng bồ câu trên nóc."

Bà cụ ngẩng lên nhìn trời, rồi nhìn anh.

"Hồi xưa nhiều. Giờ ai nuôi nữa." Bà nói. "Nuôi bồ câu là phải có người ở nhà cả ngày. Nhà nào cũng đi làm hết rồi."

"Bà còn nhớ nhà nào không ạ."

"Nhớ chớ. Mà nhớ hồi bảy mấy tám mươi." Bà cụ đếm bằng ngón tay, chậm. "Nhà ông Xường trong hẻm mười tám, dỡ rồi. Nhà bên Phùng Hưng, bán rồi, giờ làm nhà nghỉ. Còn một nhà nữa..." Bà dừng. "Thôi không nhớ. Già rồi."

Anh trả tiền chai nước, năm nghìn, và ghi hai cái tên vào sổ.

Cái mảnh thứ ba của Trình Diệu vừa lớn hơn một chút. Chuồng bồ câu xây gạch có mái ngói không phải kiểu người ta xây bây giờ. Nó là kiểu người ta xây bốn năm mươi năm trước. Nghĩa là căn nhà anh tìm là một căn nhà cũ, chủ cũ, không sửa, không bán.

Số nhà thoả điều kiện đó ít hơn hẳn số nhà ống hai tầng.

Bốn tiếng, anh đếm được chín cái chuồng bồ câu.

Bảy cái quây bằng lưới B40 và tôn, dựng tạm. Một cái bằng gỗ. Cái thứ chín xây gạch, nhưng nằm trên một chung cư bốn tầng, không phải nhà ống.

Sáu giờ chiều anh dựng xe ở lề đường Trần Hưng Đạo, mở sổ ra, và không gạch dòng nào.

Vùng anh khoanh hôm nay rộng chừng một cây số vuông. Trong đó có bao nhiêu con hẻm anh chưa vào thì anh không biết, vì Chợ Lớn không có bản đồ nào vẽ đủ hẻm.

Anh viết vào sổ: ngày một, chín chuồng, không cái nào đúng. Rồi anh viết tiếp: hẻm chưa vào — chưa đếm được.

Anh cất sổ, và trong lúc gài nút túi áo, một ý nghĩ đi qua và không chịu đi tiếp.

Anh mở sổ ra lần nữa, lật về trang có ba chữ ở lề.

Cuốn thủ bản không phải thứ để đọc cho biết. Trong đó có phép phá cửa ngoài di tích Bảy Núi. Không có nó thì không ai vào được, kể cả người biết đường tới đó, kể cả người nhớ rõ trong hầm có gì.

Anh viết dưới ba chữ Vũ Chí Thành một dòng ngắn.

Hắn cũng cần đúng cuốn này. Và hắn cũng chỉ có một cái ba lô xanh rêu để lần ra nó.

Anh gấp sổ. Đèn đường Trần Hưng Đạo bật, hàng loạt, một lượt.

Anh đạp máy xe, chờ hai chiếc xe tải chở hàng đi qua, rồi rẽ trái về hướng Thủ Đức.