Chương 21
Thuộc tiểu thuyết Tu Tiên Giữa Mạt Thế Sài Gòn
Tác giả: Hải Đăng · Thể loại: Mạt Thế · Đăng ngày · 1937 từ · khoảng 10 phút đọc
Còn một trăm bốn mươi lăm ngày. Sáu giờ sáng, Minh Phong gọi cho bà Bảy trước khi gọi cho ai khác.
"Dì." Anh nói. "Con trả dì hai triệu tháng này rồi. Con xin dùng nó."
"Dùng sao?"
"Dì gọi mối ngoài Bắc cho con. Con muốn nhập gối đầu."
Đầu dây im một lúc. Tiếng nước sôi ở đâu đó phía sau bà.
"Con biết gối đầu là gì không?"
"Dạ biết. Lấy hàng trước, trả sau ba mươi ngày. Không trả đúng thì mất mối, và mất mối thì phố này ai cũng biết trong một buổi chiều."
"Con mới mua tiệm ba ngày. Người ta không gối cho người lạ."
"Dạ nên con mới gọi dì." Anh nói. "Chín năm dì lấy hàng của họ, nợ tới hai trăm triệu mà họ vẫn giao. Dì trả xong rồi. Giờ dì gọi bảo có thằng nhỏ thay dì bán, dì đứng tên bảo lãnh chuyến đầu. Chuyến đầu con lấy ít thôi, mười lăm vị Kim Thảo chọn, đủ cho kệ không trống. Con trả đúng ngày. Chuyến hai người ta gối cho con mà không cần dì nữa."
"Con tính đâu ra ba mươi ngày có tiền trả?"
"Dạ con bán được thì có. Không bán được thì con lấy chỗ còn lại trong tài khoản trả trước, lương tính sau."
Bà Bảy không nói gì thêm, nhưng anh nghe tiếng bà đặt cái gì đó xuống, và anh biết bà đang tìm số điện thoại.
"Chín giờ dì gọi lại." Bà nói, rồi cúp.
Chín giờ mười, bà gọi lại. Mối ngoài Bắc nhận, giao trong tuần, gối đầu ba mươi ngày cho chuyến đầu với điều kiện bà Bảy đứng tên, và một điều kiện nữa mà bà Bảy nói bằng giọng như đang nhắc lại lời ai đó: *thằng nhỏ nào thì thằng nhỏ, hàng thiếu ký thì tao nói chuyện với bà Bảy.*
"Dạ con cảm ơn dì."
"Đừng cảm ơn. Con trả thiếu một ngày thì cái tên dì chín năm đi theo con." Bà nói, và anh không nghe thấy chút doạ nào trong đó, chỉ là một câu mô tả. "Kim Thảo đâu, đưa máy cho nó."
Anh đưa máy. Kim Thảo cầm, nghe hai phút, nói "dạ" bốn lần và không nói gì khác, rồi trả lại. Cô nhìn anh.
"Dì nói anh làm đúng." Cô nói. "Dì cũng nói anh nói chuyện với mối thì nói ít thôi. Người Bắc không thích nghe tính toán."
"Anh có nói gì đâu."
"Dì nói vậy đó."
Cô quay lại với mười hai cái mẹt. Anh ghi vào sổ: *nhập chuyến đầu, gối đầu 30 ngày, bà Bảy bảo lãnh. Hạn trả: còn 115 ngày.* Rồi anh gạch dưới con số đó một lần, không phải hai lần như tờ SÁU THÁNG. Nó chưa đáng hai lần. Nó chỉ mới là món nợ thứ hai, sau một triệu của Chí Kiên.
Buổi chiều anh đi gặp Nguyễn Đăng Khoa.
Khoa là người anh chưa từng tính sẽ gọi trong sáu tháng này. Trong danh sách hai trăm ba mươi mốt cái tên anh từng có, Khoa không nằm ở đâu cả. Trong mười năm ký ức, Khoa không có mặt — không sống, không chết, không đi. Nhà Khoa có tiền, và người có tiền ở thành phố này thường đi khỏi thành phố ngay tuần đầu, về một nơi mà ký ức của anh không phủ tới. Anh không đoán thêm.
Nhưng năm tư đại học, Khoa là thằng ngồi cạnh anh mọi kỳ thi và chép bài anh mọi kỳ thi, và chưa lần nào giấu chuyện đó.
Quán cà phê ở quận Ba, ghế da, máy lạnh, ly nước bảy chục nghìn. Khoa chọn chỗ. Anh dựng xe Dream ở cuối dãy xe tay ga trước cửa, và người giữ xe nhìn cái xe rồi nhìn anh, không nói gì, chỉ đưa vé chậm hơn một nhịp so với người trước. Bên trong, nhạc mở nhỏ, và ở cái bàn góc trong cùng có một người mặc áo sơ mi trắng đang ngồi với hai cái điện thoại đặt song song trên mặt bàn.
"Phong." Khoa đứng dậy, giơ tay từ xa. "Trời, mày gầy đi. Bệnh hả?"
"Sốt. Hết rồi."
"Ngồi. Uống gì? Tao gọi rồi, mày khỏi gọi."
Khoa nói nhiều, đúng như anh nhớ. Trong mười lăm phút đầu anh không phải nói gì, chỉ nghe: Khoa đã nghỉ học, đang làm cho ba, ba Khoa buôn vật liệu xây dựng và sắp mở thêm kho ở Long An, Khoa đang lo phần giấy tờ, giấy tờ ở đây thì mày biết rồi đó, phải quen người. Khoa biết người. Khoa nói câu *tao quen* năm lần trong mười lăm phút, và mỗi lần nói thì Khoa nhìn anh, không phải khoe, chỉ là thói quen của một người lớn lên trong nhà mà mọi cánh cửa đều mở bằng một cú điện thoại.
Đó là lý do anh gọi Khoa. Cũng là lý do anh phải cẩn thận với Khoa.
"Rồi, mày." Khoa cuối cùng cũng hỏi. "Tự nhiên gọi. Cần gì nói đi."
"Tao mới mua một cái tiệm dược liệu."
Khoa nhướn mày.
"Mày? Dược liệu?"
"Ừ. Ở Phạm Ngũ Lão."
"Tiền đâu?"
"Bán nhà dưới quê."
Khoa im một giây, và trong giây đó anh thấy Khoa tính — không phải tính xem có giúp không, mà tính xem chuyện này là chuyện gì. Khoa nhạy. Anh nhớ điều đó về Khoa hơn cả chuyện chép bài.
"Mày bán nhà mua tiệm thuốc bắc." Khoa nói chậm. "Mày, thằng học bổng CNTT, bán nhà mua tiệm thuốc bắc. Mày biết cái gì mà tao không biết?"
Anh không nói cho xong.
"Tao biết tao không muốn làm thuê." Anh nói. "Còn lại tao đang học. Học được tới đâu tao nói tới đó."
Khoa nhìn anh thêm một lúc, rồi cười, và cái cười ấy là cái cười của người quyết định để chuyện này lại sau.
"Được. Vậy mày cần gì?"
"Hai chuyện. Chuyện thứ nhất tao chưa cần, nhưng tao nói trước: ít tháng nữa tao cần mua vật tư số lượng lớn, mà mua chỗ không ai để ý. Lúc đó tao nhờ mày."
"Vật tư gì?"
"Chưa biết. Tao nói trước để mày nhớ."
"Ừ." Khoa gật, và anh thấy Khoa ghi vào đầu, đúng cái kiểu Khoa ghi tên một người mới gặp ở tiệc. "Chuyện thứ hai?"
Anh đặt miếng ngọc xám lên bàn, không mở giấy báo, chỉ đặt cái gói.
"Tao đang học chơi đồ cổ. Sách cổ, ngọc cũ. Ngoài Lê Công Kiều thì người ta bán cho khách qua đường. Tao cần gặp người giữ đồ trong nhà, người không bán cho khách qua đường. Chợ Lớn. Mày có biết ai không?"
Khoa không cầm gói giấy báo lên. Khoa nhìn nó, hỏi "cái gì đó", và anh không trả lời.
"Chợ Lớn thì ba tao có mấy chú." Khoa nói. "Mà mày muốn sách cổ hay ngọc?"
"Sách."
"Sách gì?"
"Sách chép tay. Chữ Hán. Cũ."
Khoa ngả ra ghế da.
"Có một chú." Khoa nói. "Bạn ba tao từ hồi hai ông còn bốc vác ở bến Bình Đông. Chú Xuân. Diệp Vĩnh Xuân. Chú đó giờ không làm gì hết, có mấy căn nhà cho thuê, cả ngày ngồi nhà chơi sách với nuôi bồ câu."
"Bồ câu?"
"Bồ câu đua. Chú xây cả cái chuồng trên nóc nhà, gạch hẳn hoi, lợp ngói. Hồi tao mười tuổi ba tao dẫn tới, tao leo lên nóc coi, chú la quá trời. Chú nói người Chợ Lớn nuôi bồ câu đua giờ còn được vài người, chuồng gạch thì chắc có một mình chú."
Minh Phong không nhúc nhích.
Anh đã đi hai trục đường hai lượt, chín cái chuồng, bốn tiếng, đầu ngước. Và thứ anh tìm đang được nói ra ở một cái quán máy lạnh quận Ba bởi một thằng chưa bao giờ ngước lên nhìn cái gì trong đời.
"Nhà chú ở đâu?"
"Trong hẻm. Hẻm gì tao quên rồi, mà tao biết đường. Nhà hai tầng, có cái cầu thang gỗ giữa nhà tao trượt té một lần." Khoa cười. "Sao, mày muốn gặp? Để tao gọi. Tao gọi chú là chú tiếp liền, ba tao với chú thân lắm."
"Đừng gọi."
Khoa dừng.
"Sao không gọi?"
"Vì chú không bán sách cho bạn của con của bạn." Anh nói. "Chú bán cho người chú tin là biết chơi sách. Mày gọi thì chú tiếp tao một buổi trà, rồi thôi. Tao cần chú tiếp tao lần thứ ba."
"Rồi mày tính sao?"
"Mày dẫn tao tới, giới thiệu tao là thằng bạn đang tập chơi đồ cũ, tao hay ngồi ở tiệm HIỆP LỢI ĐƯỜNG ngoài Lê Công Kiều. Nói tới đó thôi. Đừng nói chuyện mua. Tao tự đi tiếp."
Khoa nhìn anh một lúc lâu, và lần này không cười.
"Mày đổi." Khoa nói.
"Đổi gì?"
"Hồi đi học mày nhờ tao cái gì là mày nói thẳng cần cái gì, xong đi. Giờ mày nói tao phải nói cái gì, không nói cái gì. Mày tính từng bước." Khoa nhún vai. "Không xấu. Tao chỉ thấy lạ."
Anh không trả lời. Ba mươi bảy năm của ông chủ HIỆP LỢI ĐƯỜNG anh không có, nhưng mười năm học cách nhờ người ở chỗ mà nhờ sai một câu là mất một người thì anh có, và nó đã đi theo anh về đây mà anh không chọn mang.
"Cuối tuần." Khoa nói. "Thứ bảy chú rảnh, chiều chú cho bồ câu bay. Tao dẫn mày tới. Tao nói đúng câu mày dặn." Khoa cầm ly nước lên, rồi đặt xuống. "Mà Phong. Tao dẫn mày tới chú Xuân, sau này mày biết cái gì mà tao không biết, mày nói tao. Tao không cần biết trước, tao chỉ cần không biết sau cùng."
"Ừ."
"Nói ừ là hứa đó."
"Tao chưa hứa." Anh nói. "Tao nói tao nhớ. Tao nhớ thì tao trả."
Khoa bật cười, lắc đầu, và lần này là cười thật.
Về tới tiệm lúc năm giờ, anh rút sổ và mở tới trang có ba mảnh của Trình Diệu. Anh viết dưới dòng *hoãn tới khi vỏ bọc đứng được*: *Diệp Vĩnh Xuân. Nuôi bồ câu đua. Cầu thang gỗ giữa nhà. Thứ bảy.*
Ba mảnh giờ có tên. Anh chỉ chưa biết một chuyện, và anh viết nó xuống ngay dưới, bằng cỡ chữ nhỏ hơn: *Chú Xuân sống qua ngày va chạm, và cuốn sách vẫn nằm trong tủ tới lúc chú chết. Nghĩa là chú là người biết giữ — giữ tới lúc không còn ai để bán. Người như vậy không bán cho người tới lần đầu, và có thể không bán cho người tới lần ba.*
Kim Thảo đi ngang, tay ôm một cái mẹt đã khô, và nhìn cuốn sổ mở trên quầy nhưng không nhìn vào chữ.
"Mối Bắc gọi lại." Cô nói. "Thứ năm giao. Em ghi rồi."
"Ừ."
"Anh còn hai ngày để dọn cái gác cho có chỗ mà nhận."
Anh để cuốn sổ mở trên quầy và đi lên gác lửng.
Mười một bậc sắt kêu mười một tiếng khác nhau dưới chân anh, đúng như hôm bà Bảy đi lên. Trên gác, mười một bao hàng còn nằm nguyên chỗ cũ, và bụi từ hôm thay bóng đèn vẫn chưa ai quét. Anh xắn tay áo, kéo bao thứ nhất ra khỏi góc, và bắt đầu đếm lại từ đầu.