Chương 26

Thuộc tiểu thuyết Tu Tiên Giữa Mạt Thế Sài Gòn

Tác giả: · Thể loại: Mạt Thế · Đăng ngày · 2047 từ · khoảng 10 phút đọc

Còn một trăm ba mươi mốt ngày. Người khách đầu tiên của Minh Phong trong đời đứng quầy dược liệu là một bà cụ hỏi mua ba lạng táo tàu, và anh bốc thiếu một lạng rưỡi.

Anh biết mình bốc thiếu trước khi kim cân dừng, vì trọng lượng trên tay không giống cái trọng lượng hôm qua anh nhìn Kim Thảo bốc hai lạng cam thảo. Anh bốc thêm. Thừa. Bớt lại. Thiếu. Bà cụ đứng nhìn cái cân tiểu ly nhích lên nhích xuống ba lần, không nói gì, và tới lần thứ tư thì bà nói.

"Con Thảo đâu?"

"Dạ chị ấy đi mối. Mai chị ấy có."

"Vậy mai tôi qua."

Bà cụ đi. Ba lạng táo tàu nằm trên cân, đúng vạch, không ai mua.

Cả ngày hôm ấy bán được một triệu chín. Tám người hỏi Kim Thảo. Hai người hỏi bà Bảy. Không ai hỏi anh là ai, vì trong cái tiệm này anh chưa là ai cả — anh là thằng đứng sau quầy bốc thiếu một lạng rưỡi táo tàu. Tới bốn giờ chiều, anh ghi vào sổ một dòng mà anh đã biết từ hôm cầm cái đồng hồ Pháp, nhưng hôm nay mới trả tiền để biết: *tay không mượn được. Ba mươi bảy năm là ba mươi bảy năm.*

Kim Thảo về lúc năm giờ, nhìn con số một triệu chín, không nói gì, và bắt đầu xếp lại ba cái kệ anh đã lấy hàng ra rồi để không đúng chỗ.

"Mối mới sao?" Anh hỏi.

"Được. Cam thảo với đương quy rẻ hơn mối Bắc mười hai phần trăm, giao trong thành phố, không phải gối đầu." Cô nói, tay vẫn xếp. "Nhưng phải mua bằng tiền mặt. Em nói để em hỏi chủ."

"Bao nhiêu?"

"Chuyến đầu hai mươi triệu."

Anh nhìn con số một triệu chín trong sổ, và nhìn con số bốn mươi bảy triệu sáu trong đầu, và nhìn cái ngày còn một trăm hai mươi bảy ở cuối tuần, khi anh sẽ đứng trước chú Xuân với cuốn sách trong tay đúng một phút.

"Hai mươi." Anh nói. "Mua."

Cô ngừng tay.

"Anh còn bao nhiêu?"

"Đủ."

"Em hỏi anh còn bao nhiêu."

"Bốn mươi bảy sáu."

Cô xếp nốt cái kệ, rồi quay lại nhìn anh, và câu cô nói không phải câu anh đoán.

"Vậy anh mua cuốn sách kia bằng gì?"

Anh không hỏi vì sao cô biết có một cuốn sách. Anh đã nói với cô, hôm anh xin ba ngày. Cô không hỏi tiếp hôm ấy, và cô nhớ.

"Không mua bằng tiền." Anh nói.

---

Thứ bảy, còn một trăm hai mươi bảy ngày. Ba giờ chiều. Chú Xuân thả chim, đếm chim về, rồi dẫn anh xuống hành lang sáu tủ, mở khoá tủ thứ ba, và lấy cuốn sách ra bằng hai tay.

Ông không đưa ngay. Ông đứng cầm nó một lúc, nhìn anh.

"Một phút." Ông nói. "Tôi đếm."

"Dạ."

Anh nhận bằng hai tay.

Nhẹ. Ba mươi bảy tờ giấy bồi thì nhẹ, nhưng anh đã biết nó nhẹ, nên cái anh nhận không phải trọng lượng. Cái anh nhận là bốn góc bìa mòn tròn đúng chỗ ngón cái anh sẽ đặt, là cái gáy khâu chỉ hơi lỏng ở đoạn giữa — chưa đứt, chưa ai khâu lại bằng cước câu, việc đó còn cách đây nhiều năm — và là cái mùi giấy cũ trộn mùi tủ gỗ mà anh chưa từng ngửi thấy ở cuốn này, vì ở chỗ anh cầm nó lần trước, không còn mùi gì ngoài mùi dầu hoả và mùi người.

Anh không mở.

Anh lật nghiêng cuốn sách, nhìn mép giấy, và đếm bằng mắt tới tờ thứ mười một. Mép tờ ấy có một chỗ sẫm hơn các tờ khác, một vệt cũ ăn vào từ ngoài, hình dáng chưa rõ khi nhìn từ cạnh. Anh biết nếu mở ra sẽ thấy nó là hình bàn chân, nước ăn mất bốn chữ ở góc dưới, và ai đó đã viết bù bốn chữ ra lề bằng mực khác màu.

Anh không mở. Anh đã hứa một phút, không hứa mở.

"Ba mươi." Chú Xuân nói.

Anh xoay cuốn sách lại, nhìn trang cuối từ mép. Ở góc dưới mép giấy có một chấm đỏ mờ — cái dấu son, nhìn từ cạnh chỉ còn là một chấm.

"Sáu mươi." Chú Xuân nói, và chìa hai tay.

Anh trả lại. Bằng hai tay.

Chú Xuân đặt cuốn sách vào tủ, khoá, và không hỏi *đúng cuốn không*. Ông nhìn mặt anh trong kính, và ông đã thấy câu trả lời từ giây thứ mười.

"Xuống uống nước." Ông nói.

Dưới nhà, hai ly nước lọc. Ông ngồi, anh ngồi, và lần này ông nhìn anh ngay, không đợi tuần trà.

"Rồi. Cậu cầm rồi. Giờ tới lượt tôi."

"Dạ."

"Hôm đầu cậu nói cậu chưa nói được tại sao, vì tôi chưa có lý do gì để nghe cậu nói dài. Tuần trước cậu nói lại y vậy." Ông nói. "Tôi nghĩ hai tuần. Tôi thấy cậu nói đúng. Nên hôm nay tôi không hỏi tại sao. Tôi hỏi cái khác: cuốn đó dùng để làm gì. Không phải nó là gì. Nó *làm* được gì."

Đây là câu anh đã chờ, và đã chuẩn bị bằng cách đứng quầy một ngày bốc thiếu táo tàu.

Anh không trả lời bằng lời. Anh thò tay vào túi áo ngực, lấy miếng ngọc xám mẻ góc ra, đặt lên bàn giữa hai ly nước.

"Chú cầm thử cái này."

Chú Xuân nhìn miếng đá. Ông là người của tủ sách, không phải tủ ngọc, nhưng ông đã ngồi Chợ Lớn bảy mươi năm, và ông cầm nó lên, lật, nhìn góc mẻ, nhìn mấy đường khắc mờ.

"Đồ xấu." Ông nói. "Mua bao nhiêu?"

"Hai trăm nghìn. Ở tầng dưới của một cái tủ ngoài Lê Công Kiều."

"Rồi?"

"Chú lật cổ tay lên. Áp nó vào chỗ da mỏng. Rồi chú đếm — đếm như chú đếm chim, bằng nhịp thở, không cần đồng hồ. Đếm tới khi nó ấm lên bằng tay chú."

Chú Xuân nhìn anh thêm một giây, rồi làm. Ông lật cổ tay — cổ tay to, gân nổi — áp miếng đá vào, và bắt đầu đếm bằng môi.

Anh đếm theo, không thành tiếng.

Ba mươi. Ông không nói gì. Bốn mươi. Lông mày ông nhích. Năm mươi. Ông đổi tay, áp vào cổ tay kia, như để kiểm xem tay mình có lạnh không. Sáu mươi. Ông bỏ miếng đá ra, đặt xuống bàn, nhìn nó, rồi nhìn cái bàn tay mình.

"Đá thường thì ấm ở ba mươi." Anh nói. "Cháu thử bảy miếng ở cái tủ đó. Sáu miếng ấm trước ba mươi hai. Miếng này sáu mươi hai."

"Vậy nó là gì?"

"Cháu không biết nó là gì. Cháu chỉ biết nó khác sáu miếng kia ở một chỗ không ai bán, không ai mua, không ai đo." Anh nói. "Và cháu biết cách thử này ở trang mười bốn của cuốn sách trên tủ. Cuốn chú vừa cho cháu cầm."

Im.

Con bồ câu ở lại trong chuồng gù trên nóc, tiếng nó xuống tới tầng một qua cái cầu thang gỗ.

"Cậu không đọc được chữ Hán."

"Dạ không."

"Vậy cậu biết trang mười bốn bằng cách nào?"

Anh đã biết câu này sẽ tới, và anh đã quyết định từ hôm đứng quầy rằng mình sẽ trả lời nó bằng thứ duy nhất anh có mà không phải bịa: một câu thật, cắt ở đúng chỗ.

"Dạ có người đọc cho cháu nghe." Anh nói. "Từng trang. Ba đêm. Người đó đọc được chữ Hán, và người đó chết rồi. Cháu nhớ hết những gì người đó đọc, nhưng cháu không nhớ mặt người đó. Chuyện đó xảy ra ở một chỗ mà nếu cháu nói ra thì chú sẽ nghĩ cháu nói dối, và cháu không muốn chú nghĩ vậy, nên cháu không nói."

Chú Xuân không hỏi *chỗ nào*. Ông nhìn miếng đá trên bàn thêm một lúc.

"Ông thầy thuốc Phùng Hưng." Ông nói, chậm. "Hồi bán cho tôi, ông ấy nói một câu tôi nhớ ba mươi năm mà không hiểu. Ông ấy nói: *cuốn này không dạy chữa bệnh. Nó dạy tìm thứ còn sống trong đồ chết.*"

Anh không nhúc nhích.

"Tôi tưởng ông ấy nói kiểu thầy thuốc già." Chú Xuân nói tiếp. "Giờ cậu áp cục đá vô tay tôi, bắt tôi đếm tới sáu mươi, rồi cậu nói trang mười bốn. Tôi thấy hai chuyện cách nhau ba mươi năm vừa chạm nhau ở cái bàn này."

"Dạ."

"Người kia." Ông nói. "Người để tên. Hắn có làm được như cậu vừa làm không?"

"Dạ cháu không chắc hắn không biết." Anh nói. "Cháu chắc hắn không có cục đá này trong tay. Hắn mua theo giá."

Chú Xuân gật một cái rất nhỏ.

"Tuần trước cậu xin cầm. Hôm nay cậu xin gì?"

Đây là chỗ anh đã đổi.

Cả tuần anh không tính cách mua. Anh tính cách không mua. Hắn trả cao, bị từ chối. Anh trả cao hơn thì cũng bị từ chối, và nếu không bị từ chối thì hai mươi bảy triệu sáu còn lại đi hết, tiệm chết, gối đầu vỡ, tên bà Bảy đi theo anh. Cái chú Xuân cần không nằm trong tài khoản anh. Nó vừa nằm trên bàn: một cục đá lạnh sáu mươi nhịp, và một câu ba mươi năm không ai giải.

"Dạ cháu không xin mua." Anh nói. "Cháu xin đọc. Ở đây, tại cái bàn này, mỗi thứ bảy sau khi chú thả chim. Chú mở tủ, chú cầm sách, chú lật từng trang, cháu ngồi đối diện nhìn trang giấy và nói lại chú nghe trang đó viết gì — theo đúng cái cháu đã được nghe đọc. Chú giữ sách. Cháu không cầm, không chụp, không chép. Đổi lại chú biết cuốn chú giữ ba mươi năm là cái gì, và cháu biết cháu nhớ có đúng không."

Chú Xuân im rất lâu.

Anh có tới tờ mười bốn. Sau đó là chỗ Trình Diệu đọc lướt. Anh đặt cược rằng tới lúc ấy chú đã không còn cần kiểm.

"Ba mươi bảy tờ." Ông nói cuối cùng. "Mỗi tuần một tờ thì hơn tám tháng."

"Dạ cháu không có tám tháng." Anh nói. "Cháu có bốn tháng. Nên cháu xin hai tờ một tuần, tờ cuối cháu xin nợ, và chú thấy cháu nhớ sai chỗ nào thì chú dừng, cháu về, không tới nữa."

"Sao cậu biết tôi thấy được cậu nhớ sai? Tôi cũng đâu đọc được."

"Dạ chú không đọc được chữ. Nhưng chú giữ nó ba mươi năm, chú biết trang nào có vết ố, trang nào có chữ viết bù ngoài lề, trang nào có dấu son. Cháu nói một trang mà lệch với cái chú thấy trên giấy thì chú biết liền."

Ông nhìn anh, và cái nhìn ấy là cái nhìn hôm đầu tiên, khi ông dừng ở hai bàn tay anh trước khi nhìn mặt.

"Trang mười một có gì?" Ông hỏi.

"Dạ một vệt ố hình bàn chân, nước ăn mất bốn chữ ở góc dưới, và bốn chữ viết bù ra lề bằng mực khác màu."

Chú Xuân đứng dậy, không nói, đi lên cầu thang gỗ. Bậc thứ sáu kêu. Tiếng khoá đồng. Rồi bậc thứ sáu kêu lần nữa, và ông xuống với cuốn sách trong tay, mở sẵn ở một trang.

Ông đặt nó lên bàn, giữa hai ly nước, cạnh miếng đá, xoay về phía anh.

Trang mười một. Vệt ố hình bàn chân. Bốn chữ ngoài lề, mực nâu, khác màu mực đen của cả trang.

"Thứ bảy tuần sau." Ông nói. "Tờ một, tờ hai. Cậu tới trễ một phút là tôi khoá tủ."

Anh không cầm cuốn sách. Anh nhìn trang mười một một lúc, rồi đứng dậy, và để miếng đá nằm nguyên trên bàn, cạnh cuốn sách.

"Cái đó chú giữ." Anh nói. "Chú đếm lại lúc nào chú muốn. Coi như tờ đầu tiên cháu trả trước."