Chương 3: Nước men thứ nhất
Thuộc tiểu thuyết Về Làm Dâu Làng Gốm
Tác giả: Nguyễn Thảo Chi · Thể loại: Ngôn Tình · Đăng ngày · 2296 từ · khoảng 11 phút đọc
Hăm lăm tháng Hai, còn đúng tám ngày nữa là tới phiên chợ mồng Ba tháng Ba.
Nhài quỳ xuống mảnh vườn chín luống, hơi lạnh từ đất ẩm thấm qua lớp vải quần mỏng ở đầu gối. Nàng chạm tay vào luống thứ năm. Một vạt rau muống vươn thẳng, lá hình mũi mác xanh mướt mát, hoàn toàn khác hẳn đám cỏ dại chỉ trực héo rũ vì thiếu nước ở bãi đất ngoài kia. Đây là lứa rau vốn có sẵn từ ngày đầu nàng bước chân vào vườn, không phải lứa gieo từ hôm mười tám.
Nàng dùng móng tay bấm dứt từng cọng rau mập mạp, bó lại thành mười nắm nhỏ. Mỗi nắm vừa vặn một vòng tay người lớn. Nhài ôm mớ rau ra bể nước giữa vườn, rửa sạch lớp đất mùn bám ở gốc, rồi mới đem ra ngoài.
Lúc Nhài bước ra khỏi vườn, hai bàn tay nàng sạch trơn, nhưng mẻ đất sét nàng đang nhào dở ở góc sân đã khô cứng lại. Nửa buổi giẫm chân của nàng coi như hỏng. Đất thiếu hơi người, gặp nắng hanh thì nứt nẻ. Nhài nhìn mẻ đất, nuốt khan một cái, rồi lẳng lặng bưng rổ rau vào bếp.
Bữa cơm trưa hôm ấy, nhà họ Tạ không ăn cháo suông độn cám. Một bát canh rau muống nấu suông xanh ngắt đặt ngay chính giữa chiếc chõng tre khập khiễng. Nhài vơ lấy nắm lá chuối khô nhóm lửa. Nàng cắt hết mười nắm rau vừa hái, chỉ để lại một ít muối trắng trong hũ và gáo nước mưa trong vại. Rau tươi gặp nước sôi xanh rờn, mùi thơm thanh khiết át cả mùi khói bếp vẩn đục. Nhài chia cơm ra bốn chiếc bát sứt sẹo. Nàng múc phần cho bà Tạ vào chiếc liễn sành cũ, tươm tất cả ngọn lẫn nước rồi bưng tận vào buồng. Ba bát còn lại, nàng chia đều cho mình, Chấn và cái Bến.
Cái Bến nhìn bát canh, hai mắt nó sáng lên. Nó lùa một miếng cơm rồi gắp ngay một ngọn rau, nhai nhấu nhếch. Nó húp sạch nước canh, chìa bát ra phía Nhài, đưa mắt xin thêm. Nhài mỉm cười gắp phần rau của mình sang bát em chồng. Trong buồng, bà Tạ cũng không để thừa một lá rau nào. Chiếc liễn sành trống trơn được bà đặt lại trên khay gỗ. Chấn lặng lẽ cầm đôi đũa cả, anh ăn chậm, nhai kỹ như muốn nếm hết vị ngọt lạ lùng của mớ rau. Xong bữa, Chấn không đứng dậy ngay. Anh ngồi lại trên chõng, tay vân vê cạnh bát, nán lại thêm một khắc lâu hơn mọi bữa trước khi ra lò.
"Chị Nhài ơi, rau này ngọt thế. Chả chát như rau muống ngoài bến."
Chấn nhìn bát canh rồi lại nhìn sang vợ. Anh không hỏi, chỉ lặng lẽ gắp một ngọn rau bỏ vào bát cho bà Tạ. Bà Tạ chống tay trái ngồi dậy, tựa lưng vào vách nứa. Cụ nhấp một ngụm nước canh, đôi mắt đục mờ đổ dồn về phía Nhài.
Cả nhà im lặng ăn. Nhài thấy rõ nhịp đũa của bà Tạ hôm nay nhanh hơn thường lệ. Bà ăn hết sạch bát cơm, không để sót một hạt.
"Rau này nhà đò nào cho mình à?"
Nhài nhìn thẳng vào mắt Chấn, giọng đều đều:
"Dưới bến Vại có ghe làng bên đi ngang qua. Họ thấy mấy mảnh gốm hỏng của mình men còn sót lại, tưởng đồ quý nên em đổi lấy rau. Họ bảo rau này giống lạ, trồng ở đất thịt nên mới xanh thế."
Chấn nhìn đôi bàn tay Nhài. Vết chai mái chèo ở lòng bàn tay nàng vẫn còn, nhưng đầu ngón tay lại sạch đến lạ lùng, không có nhựa rau hay màu đất. Anh nhìn xuống cái rổ tre đặt ở xế cửa, nơi có một vệt bùn đen không giống loại đất sét của làng Sành Hạ. Chấn gật đầu, đứng dậy đi ra phía lò bầu, không hỏi thêm một lời. Nhài thở hắt ra, nàng biết mình vừa bước qua một ngưỡng cửa, nhưng lời nói dối này bắt đầu để lại những kẽ hở.
Đầu giờ chiều, Nhài ra bến Vại. Nàng không đi sang bên kia ngòi mà chỉ quanh quẩn dọc bãi sông thuộc đất làng Sành Hạ. Nhìn thấy một chiếc ghe bầu lớn đang bốc dỡ vại nung sang xe bò, Nhài khép nép tiến lại gần. Dưới lòng ghe, những lớp rơm lót hàng sau chuyến đi dài đã nát vụn, vương vãi đầy mạt gốm.
Nàng chìa ba cái bát mộc nhỏ bị méo vành ra, đánh tiếng với anh lái ghe: "Anh ơi, chỗ rơm bỏ đi này anh cho em xin, em biếu anh mấy cái bát đựng nước sơn."
Anh lái ghe xua tay, bảo rơm ấy đổ đi cũng bẩn bến, bảo nàng cứ việc hốt hết. Nhài hì hụi gom được đầy một đôi sọt lớn. Rơm chèn hàng khô nỏ, rất bắt lửa. Nàng quẩy gánh rơm về sân nhà, chọn góc kín gió sau lò bầu để đốt. Nàng chọn lúc nắng quái chiều vừa tắt, khi gió sông ngừng thổi mạnh để tro không bị cuốn đi. Ngọn lửa bùng lên, cháy rần rật. Nhài đứng canh, đợi rơm hóa thành đống than đỏ lựng rồi mới để nguội dần. Phải mất nửa khắc, đống tro mới dịu nhiệt để hót vào thúng. Nàng dùng chiếc sàn thưa bằng mắt lưới tre nhỏ nhất, lắc đều tay qua ba lượt. Phần cuống rơm cháy dở và sỉ than thô bị loại ra ngoài. Phần tro mịn lọt xuống dưới, êm ái. Đống rơm đầy hai sọt cao ngất ngưởng, vậy mà khi sàng xong, Nhài chỉ thu được đúng hai bơ tro. Ít đến thắt lòng.
Nhài bốc một nắm tro, khẽ bóp nhẹ. Tro rơm bám mịn vào vân tay, màu trắng ngà chứ không đen xỉn như tro củi cành. Nàng thả một nhúm vào gáo nước, tro rơm tan ngay, không nổi lềnh bềnh. Đồ nhà nông, Nhài nhìn qua là biết cái chất riêng của nó.
Bỗng trong buồng tiếng gõ vách "cộc, cộc, cộc" vang lên. Nhài rửa vại tay rồi bước vào. Bà Tạ vẫn nằm đó, móng tay bà còn vệt men cũ ăn sâu vào da thịt. Bà không nhìn nàng, mắt hướng lên những xà nhà bám đầy bồ hóng.
"Tro rơm muốn làm men phải luyện kỹ. Sàng ba lần chưa đủ, phải ngâm nước vôi rồi gạn lấy phần nước trong."
Bà dừng lại, hơi thở đứt quãng rồi nói tiếp:
"Muốn nó bám được vào cốt đất thì bùn ao lắng phải cho vào sau cùng, pha loãng hơn nước vo gạo. Chứ cái thứ tro khô kia mà ập vào thì chỉ có bong hết. Làm đi, đừng để phí mẻ củi."
Bà xoay người vào phía vách, kết thúc câu nói bằng một cái trở mình nặng nề. Nhài đứng lặng. Bà Tạ chỉ cho ra một mẩu ngắn bí mật như vậy, không phải vì bà thương nàng, mà vì bà xót gánh rơm và hai bơ tro mịn nàng vừa cặm cụi sàng.
Nhài ra sân, tim đập rộn. Nàng pha theo lời bà chỉ: một nắm tro mịn, một nắm vôi tôi, thêm hai gáo nước bùn ao đã lắng từ sáu hôm trước. Nàng khuấy đều cho đến khi hỗn hợp có màu xám đục, sền sệt. Nàng hiểu đây chính là mẻ nước men thứ nhất, lần thử đầu tiên để xem vận may của mình đến đâu. Nàng chọn lấy bốn cái bát mộc là hàng thứ phẩm bị nứt nhẹ ở đáy rồi nhúng vào chậu men.
Nước men bám vào bát thành một lớp mỏng, trơn trượt trên ngón tay. Nàng hong gió cho khô mặt rồi đem xếp vào bầu thứ hai của lò. Chấn đang chèn củi ở cửa lò, thấy vợ mang bát ra thì né người cho nàng xếp vào một góc kín.
Cái lò bầu nứt một đường ở bầu thứ hai từ mùa nước năm ngoái. Để nung được mẻ hàng này, Chấn phải đốt củi gấp rưỡi nhà người ta để bù vào lượng nhiệt thoát ra từ kẽ nứt. Tiếng lửa reo trong lò nghe hừng hực. Nhài ngồi canh lửa cùng Chấn, thỉnh thoảng nàng lại ném một nắm rơm khô vào để giữ ngọn lửa cháy đều ở bầu nứt.
Ba tiếng sau, Chấn ra hiệu gỡ lò nháp. Nhài run run cầm cái móc sắt. Khi cái nắp lò vừa mở, hơi nóng phả ra rát mặt. Bốn cái bát vẫn nằm đó, nhưng không có màu men xanh bóng như nàng hằng tưởng tượng.
Lớp men chảy sệ xuống chân bát, kết thành những cục nhựa màu đen đục, dính chặt vào bệ lò. Nhài dùng cái đục nhỏ định gỡ ra, nhưng "răng" một tiếng, cái bát vỡ tan. Cả bốn cái bát đều hỏng hoàn toàn, dính cứng vào đống đất bệ lò, không cách nào lấy ra nguyên vẹn. Mất bốn cái hàng mộc, mất nửa bó củi cành, và mất trắng cả buổi chiều trông đợi.
Chấn lặng lẽ cầm lấy cái đục từ tay Nhài. Anh không trách, chỉ gạt đống mảnh vụn sang một bên bệ lò cho gọn.
"Nóng quá, men nó chảy." Anh nói khẽ.
Đúng lúc ấy, ngoài bãi đất sau lò có tiếng guốc mộc vang lên lộc cộc trên những viên gạch vỡ. Một người đàn ông trung niên, áo dài đen, khăn xếp gọn gàng đi vào. Đó là ông Đỗ Quýnh, trưởng lò lớn nhất Sành Thượng. Đi trước ông là một thằng nhỏ đang trải những tấm chiếu manh xuống đất. Ông Quýnh bước lên chiếu, guốc mộc của ông không dính lấy một hạt bụi đất từ xóm Bãi. Chấn buông cái đục, đứng im bên cạnh đống tro tàn, mắt nhìn thẳng nhưng không nói nửa lời.
Ông dừng lại ngay trước bãi đất nứt nẻ sau lò bầu nhà họ Tạ. Ông không nhìn vào lò, cũng chẳng ngó qua những chồng hàng thô đang xếp xó. Ông dùng một ngón tay, khều nhẹ một mảnh đất vỡ dưới chân lên xem. Ông nheo mắt nhìn cửa lò, hỏi một câu làm Nhài giật mình:
"Cửa lò này thu hẹp một tấc, khí không thoát kịp thì củi nào tải nổi? Lại còn cái vòm bầu thứ hai, nứt sâu đến tận chân đế thế kia, định dùng bùn trát tạm đến bao giờ?"
Nhài lặng người. Ông ta biết rõ cái lò này hơn cả nàng. Ông Quýnh nhìn sang đống bát vỡ, nói thẳng:
"Hàng của anh Hạ tôi mua rẻ vì nó không đáng giá một xu. Tôi sòng phẳng, hàng hỏng thì giá mạt, không có gì phải giấu. Tôi không mua hàng. Tôi hỏi mua bãi đất sau lò này. Nhà họ Tạ bán cho tôi, tôi trả một đồng."
Một đồng. Nhài đứng sững. Một đồng đủ để mua hai thúng gạo ngon nhất của bà Cẩm, đủ để cả nhà ăn trắng đến hết tháng Ba mà không phải lo nợ nần. Mảnh đất sau lò vốn trồng không lên nổi một ngọn cỏ, đá sỏi lởm chởm, chẳng ai thèm ngó tới. Tại sao ông ta lại trả một giá cao đến phi lý như thế?
Bà Tạ từ trong buồng cất tiếng, giọng bà vang ra đầy dứt khoát:
"Lò nhà này còn đỏ lửa, đất không bán. Ông Quýnh về cho."
Ông Quýnh không nói thêm câu thứ hai. Ông gật đầu với thằng nhỏ. Thằng nhỏ lấy ra một xấp tiền gồm mười hào lẻ, đặt lên tảng đá lớn cạnh gốc cau rồi cuốn chiếu bước đi.
"Tôi để tiền đây. Phiên mồng Ba tôi lại sang. Lúc ấy nhà này hết gạo, tiền vẫn còn giá."
Ông Quýnh đi rồi, không khí trong sân nhà họ Tạ chùng xuống. Chấn nhìn xấp tiền trên tảng đá, rồi nhìn sang Nhài. Anh cầm lấy số tiền một đồng ấy, bước vào buồng đưa trả cho bà Tạ. Nhài không nghe thấy hai mẹ con nói gì, chỉ thấy tiếng thở dài của Chấn vọng ra.
Nhài ngồi xuống cạnh bệ lò, nơi bốn cái bát vỡ vẫn còn bám vệt men đen. Nàng đưa ngón tay quệt vào vệt men chảy còn sót lại. Nàng không buồn, mắt nàng chăm chú quan sát độ dày của lớp men dính trên bệ lò. Nàng nhận ra ngay: nước men của nàng quá đặc, và chỗ bùn ao lắng kia nàng chưa khuấy đủ một trăm vòng để nó tan đều. Men chảy vì nó nặng quá, gặp lửa già là nó tuột xuống chân bát.
Nàng hỏng vì nàng muốn làm cho nhanh, mà men thì vốn không ưa sự vội vã.
Nhài nhặt một mảnh gốm vỡ, ngồi xuống bên đống đất dở. Nàng dùng mảnh gốm vẽ một đường thẳng lên mặt đất nện, chia thành tám khoảng đều nhau. Tám ngày. Tám ngày nữa là đến phiên mồng Ba tháng Ba.
Nàng gạt vệt bùn trên tay, lẳng lặng úp bàn tay xuống mặt đất. Nàng cảm nhận được hơi ấm quen thuộc của mảnh vườn chín luống đang gọi tên mình. Nàng cần rơm, cần rất nhiều rơm để đốt tro cho mẻ men thứ hai.
Nhài chạm tay vào luống thứ sex.
Dưới tảng đá cạnh gốc cau, một bơ tro mịn còn sót lại bị gió thổi bay lất phất.