Chương 3: Bàn xoay
Thuộc tiểu thuyết Về Làm Dâu Làng Gốm
Tác giả: Thảo Chi · Thể loại: Ngôn Tình · Đăng ngày · 2251 từ · khoảng 11 phút đọc
Sáng hôm sau, cô bị đánh thức bởi một âm thanh mà cả đời cô chưa từng nghe. Đó là tiếng ì ọp ì ọp của một khối nặng và mềm bị dẫm lên từng nhịp.
Cô lần ra sân khi sương còn đọng trên mái tranh, hai đầu gối ê ẩm, cái dạ dày trống lép sau bát cháo loãng hôm qua kêu một tiếng dài mà may mà chẳng ai nghe. Ở góc sân, chỗ một cái hố vuông lót ván và phủ rơm, Chấn đang đứng giữa một khối đất sét màu xám tro, quần xắn tới gối, hai ống chân lấm bùn. Anh đạp từ ngoài vào trong, từng vòng xoắn ốc, mỗi bước nhấc chân lên đều kéo theo một tiếng chép ướt át. Khối đất dưới chân anh dần dần mịn lại, bóng lên, ẩm. Cô đứng nhìn một lúc lâu, nhìn hai bàn chân lên xuống đều, và quên mất mình đang đói.
"Em dậy sớm quá, mẹ chưa gọi mà," anh nói, chân vẫn nhấc lên đặt xuống đều, không lệch một nhịp.
"Em muốn coi anh làm." Cô tiến lại gần mép hố, ngồi xổm xuống. Mùi đất ướt xông lên mũi cô, thứ mùi đầu tiên ở nơi này làm cô nhớ cái ruộng thí nghiệm sau mưa, cái ruộng cô từng ngồi xổm cả buổi sáng bên cạnh. Cổ họng cô thít lại một chút rồi thả ra. "Anh làm cái này mỗi sáng hả?"
"Mỗi sáng. Đất phải đạp ba lượt mới dẻo, nhồi cho hết bọt khí rồi mới lên bàn xoay được, chứ bọt khí mà còn thì nung lên là nổ liền." Anh giải thích mà chân vẫn nhấc lên đặt xuống.
Cô thò tay xuống mép hố, bốc một nắm đất vừa bị đạp, vê giữa hai ngón. Đất mát lạnh, dẻo, bám da, nhưng ở ngón cái cô lẫn ra mấy hạt sạn nhỏ xíu, trắng đục, cộm lên dưới móng tay. Cô nói ra trước khi kịp nghĩ:
"Chỗ này còn sạn trắng, anh. Chắc là vôi hay cát gì đó lẫn vào. Nung lên thì chỗ sạn ấy dễ nứt."
Chân Chấn dừng giữa vòng đạp. Anh nhìn cô, rồi nhìn nắm đất trong tay cô, chậm. Anh bước ra khỏi hố, ngồi xuống bên cạnh cô trên mép ván, cầm lấy tay cô, lật bàn tay lên, dùng đầu ngón tay gảy từng hạt sạn ra, soi vào ánh sáng. Tay anh ấm và hơi run.
"Mẹ cũng dặn vậy," anh nói khẽ, mắt chưa rời nắm đất. "Mẹ dặn từ hồi cha còn, đất ở đây phải lọc sạn cho kỹ trước khi đạp, từ ngày mẹ liệt thì anh làm không kịp." Anh ngẩng lên, nhìn cô lâu hơn mức cần. "Mấy hôm nay em còn chưa dám đụng vào đất. Em biết cách này từ đâu vậy?"
"Hồi nhỏ em thấy người ta làm," cô đáp, và lần này câu nói dối nghe cũ kỹ và gượng gạo hơn lần trước. Cô thấy anh định hỏi tiếp, môi anh mở ra, rồi anh nuốt xuống, thả hạt sạn vào hố, đứng dậy đi lấy cái thùng gỗ. Cô nhìn lưng anh và không biết nên mừng hay nên sợ.
Từ cửa sổ gian buồng, cái cửa sổ nhỏ mở ra góc sân, một giọng khàn khàn vọng ra. "Chấn! Mày để con kia thò tay vô đất làm cái gì? Nó mới ngã hôm qua!"
"Dạ, em chỉ đứng coi thôi mẹ."
"Coi mà sờ hả? Bay nhìn đất bằng mắt hay bằng mũi?" Có tiếng lách cách của chiếc chõng tre bị người nằm trên đó trở mình, một hơi thở rít. Rồi giọng bà đột nhiên đổi nhịp, nhanh hơn, hết gắt. "Đất mới đạp lần một thì chưa nói được gì, phải để qua đêm rồi mới biết sạn nằm ở đâu. Mà thôi đừng ngâm, ngâm mất dẻo. Lọc khô bằng cái sàng thưa hai lớp, lớp trên thưa, lớp dưới mau, cái sàng treo ở xà gian ngoài ấy... bay không nhìn thấy à?"
Chấn nhìn cô, cô nhìn Chấn, rồi cả hai cùng ngước lên xà gian ngoài, nơi có hai cái sàng tre treo ở đó, lớp bụi dày bằng ngón tay. Họ cùng cười một nụ cười nén chặt trong cổ họng, sợ người trong buồng nghe thấy.
*
Cô chưa từng thấy ai ngồi vào bàn xoay mà làm cô muốn nín thở.
Cái bàn xoay nằm giữa gian nhà giữa, nơi nền đất đã bị hai bàn chân người lặp đi lặp lại cả trăm năm mài lõm xuống một vòng tròn. Nó là một đĩa gỗ mít lớn bằng cái nong nhỏ, xám ngà, gắn trên trục gỗ sến đã mòn bóng. Nhìn nó, cô hiểu ngay vì sao bà nói "bàn xoay đi là hết nghề".
Chấn ngồi xuống, chân phải đạp nhẹ lên thanh gạt. Cái đĩa bắt đầu quay, thoạt đầu uể oải, rồi mượt dần, thành một vòng xám mờ không còn nhìn ra mép. Anh ném lên giữa đĩa một cục đất to bằng hai nắm tay, ấn hai bàn tay xuống. Đất vươn lên theo những ngón tay anh, thành một cái trụ, rồi ép xuống, rồi lại vươn lên. Cô đếm được mười nhịp thở. Cái trụ đất đã thành một cái bát rộng miệng, thành bát mỏng dày đều, mỏng chừng hai lóng tay, đường viền miệng tròn không một chỗ gợn.
Anh dùng một sợi chỉ cắt đáy, nhấc cái bát khỏi đĩa, đặt nó lên tấm ván bên cạnh, hạ tay từ từ cho đến khi bát chạm ván mới buông. Rồi anh nhìn lên, hơi ngượng, hơi chờ đợi, và cô nhận ra anh đang chờ cô nói gì đó.
"Đẹp quá," cô nói, giọng cô khản đi. "Anh làm cái đó trong có bao lâu vậy? Em đếm được mười nhịp thở thôi mà."
"Hồi mười lăm tuổi anh làm mất mười lăm nhịp, bây giờ chỉ còn mười." Anh gãi gáy, nụ cười lại nhích bên trái. "Cái Bến nói anh chuốt nhanh nhất xóm Bãi, nhưng mà..."
"Nhưng mà hàng mộc ai mua," Cái Bến tiếp lời, từ ngoài ngưỡng cửa, hai tay chống hông. "Một xu một cái, anh chuốt tám cái mới bằng một bát có men. Bên Sành Thượng người ta chuốt chậm gấp ba mà bán gấp tám, chỉ vì có men."
"Men." Nhài lặp lại, nghe chữ đó lạ trong miệng mình. "Nhà mình không có men sao anh? Em tưởng gốm nào cũng phải có chứ..."
Phía sau vách, bà Tạ ho khan một tiếng dài. Cả ba người cùng ngừng lại.
"Men nhà này hết từ hồi ông ấy mất," giọng bà vọng ra, chậm và nặng, từng chữ phải lấy hơi. "Tao biết nấu, tao biết pha, biết thử... vậy mà tay tao không cầm nổi cái bay, mắt tao nhìn không ra lửa." Bà ho, ngắt, thở. "Nằm đây nghe thằng Chấn đạp đất mỗi sáng, nghe cái bàn xoay quay mỗi buổi, mà tao chỉ biết gắt. Thợ lò khác họ biết rõ... nên họ chờ nhà này sập để mua cái lò rẻ."
Chấn nhìn cái bát mộc trên ván, Cái Bến nhìn xuống chân mình. Cô nghĩ tới những tháng bà nằm trong buồng nghe tiếng bàn xoay mà không bước ra được, nghĩ tới cái gắt buổi sáng, và thấy gắt là thứ duy nhất bà còn dùng được.
"Mẹ," cô nói, thận trọng, "nếu con xin mẹ chỉ cách nấu men, mẹ có chỉ không?"
"Không," bà đáp, nhanh, gắt, rồi sau một nhịp mới nói thêm: "Mày chưa đủ tư cách."
*
Trưa, Cái Bến bưng ra một rổ lá lang luộc chấm muối, nó chia làm ba phần ngay trên bậc thềm, mắt đo từng cọng như người cân vàng. "Phần chị hai nhiều hơn một cọng," nó tuyên bố. "Vì chị hai ngã."
"Vậy hôm sau chị ngã thêm lần nữa thì được thêm mấy cọng?" Nhài hỏi.
"Hai," nó đáp không do dự, rồi thấy Chấn nhìn mình, nó quay mặt đi cười vào vạt áo. Cô nhai cọng lang dai, mặn, nóng, và nghĩ đây là bữa trưa đầu tiên trong đời cô mà mỗi cọng đều có người đếm hộ.
*
Bà Cẩm đến vào xế chiều ngày thứ hai, và cả cái sân đổi nhịp thở trước khi bà đặt chân qua cổng.
Bà theo sau một thằng bé gánh hai cái thúng không, đi từ tốn, lưng thẳng, như đường làng này bà đã đi nhiều năm mà chưa lần nào phải nhường ai. Bà mập, da đỏ au vì nắng bến, khăn mỏ quạ đen buộc chặt dưới cằm. Mùi gạo mới theo bà bước vào sân, mùi cơm của một nhà nấu đủ no, và bụng Nhài quặn lên trước khi đầu óc cô kịp hiểu tại sao. Bà nhìn quanh một vòng mà không chào ai. Mắt bà đi qua cái lò, mái trũng, Chấn khựng lại bên miệng hố với hai bàn tay lấm bùn, Cái Bến đã tọt ra sau cột chỉ còn thò một nửa bím tóc, nó thì thào "bà Cẩm đó" về phía cô mà không dám thò mặt ra. Bà nhìn Nhài từ đầu xuống chân, lâu, đúng cái cách người ta đo xem thúng đầy hay vơi.
"Nghe nói con dâu nhà này ngã ở cửa lò," bà nói. "Tôi sang coi bàn xoay còn nguyên không."
Cổ họng cô khô lại. Cô nghe tim mình đập ở hai bên thái dương, nghe tiếng thở của Chấn ngưng hẳn phía sau lưng, và bàn tay cô tự túm lấy vạt áo. Cô sợ thật. Nhưng cô biết cách đứng trước một người chủ nợ, hay ít ra là trước một người cầm quyết định, thứ này cô từng làm trong các buổi bảo vệ kinh phí, hai tay ướt mồ hôi mà giọng vẫn phải đều. Bà không vòng vo, và cô thấy thế còn dễ hơn.
"Dạ bà cứ vào coi," cô nói. "Bàn xoay ở gian giữa. Con xin phép hỏi bà một điều được không ạ?"
Bà Cẩm nhướn mày. "Hỏi."
"Tờ giấy nợ nhà con cắm trên bàn thờ, con đọc rồi ạ," cô nói, và nghe giọng mình ráo hơn hẳn lòng bàn tay đang ướt. "Nhà con chỉ có một bản, bà có bản của bà không? Con muốn coi lại, để hai bên cùng hiểu một lẽ cho khỏi cãi nhau sau này. Mà cãi nhau với bà thì con không dám đâu."
Có một khoảnh khắc im lặng ngắn mà cô cảm được tận gan bàn chân. Chấn quay phắt nhìn cô, môi anh mở ra không thành tiếng, Cái Bến thò hẳn đầu khỏi cột, mắt tròn xoe. Môi bà Cẩm nhếch lên, một nếp gấp ở khoé miệng.
"Con bé mới về làm dâu mà biết hỏi sổ." Bà rút từ thắt lưng ra một cuốn sổ bìa lá, thô và dày, lật ra một trang đã quen vị trí, và ngón tay đeo nhẫn đồng của bà dừng lại ở hai dấu điểm chỉ đã ngả nâu. "Đây là dấu bà Tạ. Hai thúng gạo, hai mươi chín tháng Chạp, hẹn ba chục bát men lành vào mồng Ba tháng Ba. Tôi không nhận tiền thế hàng, nợ hàng thì trả bằng hàng. Số nợ này ngoài tờ giấy ra chỉ có tôi với nhà cô biết." Bà ngẩng lên, nhìn thẳng cô. "Bát lành là bát tôi gõ nghe tiếng ngân, men đều, không nứt, không sạn. Không có bát thì tôi lấy bàn xoay, tôi có sẵn người mua ở Sành Thượng."
"Người mua nào vậy bà?"
"Chuyện người ta mua, tôi không nói." Bà gập sổ. "Tôi chỉ nói là có."
Bà bước tới gian giữa, ba người còn lại im lặng đi theo vào, giữ khoảng cách, không ai dám đi trước ai. Bà Cẩm đứng trước cái bàn xoay, nhìn nó một lúc, đưa bàn tay sờ lên mép đĩa gỗ mít. Tay bà nhẹ hơn cô nghĩ.
"Gỗ mít ba đời," bà nói, nhỏ, như nói riêng với cái bàn. "Tốt, giữ cho kỹ. Đừng để đến mồng Ba tháng Ba rồi lại giữ không nổi."
Bà quay ra. Lúc ngang qua Chấn, bà dừng nửa bước, không nhìn anh, chỉ nói: "Tay chuốt của chú không thua ai, tôi biết. Nhưng không men thì chẳng ai mua tay chuốt."
Chấn đứng như trời trồng, hai bàn tay vặn vào nhau, lớp bùn xám trên tay nứt thành những vảy khô và rơi xuống nền. Bà đi rồi, thằng bé gánh thúng lẽo đẽo theo sau, tiếng thúng không va vào nhau lách cách nhỏ dần trên con đường đất, chỉ còn gió thổi qua cây cau ngoài ngõ. Cái Bến chạy ra cổng nhìn theo cho tới khi bóng bà khuất sau bụi tre, rồi quay vào, hai mắt đỏ hoe mà miệng mím lại không chịu để chảy. Nó đi thẳng tới cô, không nói gì, nắm lấy gấu áo cô, và vặn.
Chấn vẫn đứng trong gian giữa, bên cạnh cái bàn xoay. Anh đặt bàn tay phải lên mép đĩa gỗ, đúng chỗ bà Cẩm vừa sờ, rồi dời ngón cái sang vết lõm bóng nhất bên kia mép, nơi mấy đời ngón cái đã miết quen. Anh để nó ở đó, và cô thấy bàn tay anh khẽ run.