Chương 6: Thiếu một vị

Thuộc tiểu thuyết Về Làm Dâu Làng Gốm

Tác giả: · Thể loại: Ngôn Tình · Đăng ngày · 2199 từ · khoảng 11 phút đọc

Bãi sau lò không giống bất cứ nơi nào trong sân nhà họ Tạ.

Chân cô lún xuống một gang tay khi bước qua mép cỏ. Đất ở đây ướt và mềm, bập bẹp dưới mỗi bước, gió từ sông thổi lên mang theo mùi bùn tanh, mùi cá, mùi nước mặn nhạt trộn vào nước ngọt, và giữa những bụi cỏ cao quá đầu gối có một loại cây lạ mọc thành từng đám dày, thân ba cạnh, đặc ruột, xanh sẫm, đầu ngọn xòe chùm hoa nâu mảnh. Cô cúi xuống bứt thử một cọng, nó dai, ráp, để lại một vệt xanh nhờn trên ngón tay. Cô hít một hơi dài mùi bùn mùi cỏ ấy, vai chùng xuống lúc nào không hay.

"Cói," Chấn nói, đứng cạnh cô, hai tay đút vào thắt lưng. "Cha anh bảo cói mọc được ở đây vì đất mặn một chút. Ngoài ruộng ngọt thì nó không lên."

Cô quệt ngón tay lên môi, theo thói quen cũ, rồi nhăn mặt. Đất ngấm một vị mằn mặn và chát, nhạt thôi nhưng rõ, thứ vị cô thuộc từ những buổi đi lấy mẫu ở vùng ven biển, nơi phù sa pha nước lợ. Cô ngồi xổm xuống, vạch lớp rạ mục, nhìn tấm lưới rễ nâu đỏ chằng chịt bên dưới. Đây là đất khác hẳn cái nền bạc màu chua loét trước sân, mùn nhiều, màu mỡ, có sự sống. Chẳng trách có người sẵn sàng trả hai thúng gạo cho nó.

Nhưng để làm gì? Cô thử nghĩ như người làm gốm: đất sét ư, đất ở đây nhão quá, lẫn cát sông, chẳng ai nhào được. Làm nhà ư, cạnh bờ sông thì mùa nước ngập. Còn cói thì một bó bán được mấy xu, cô nghe Cái Bến đọc giá rồi. Hai thúng gạo cho một bãi cói thì không cộng ra được, và cô nhìn Chấn đang nhìn ra mặt sông, nhận ra mình chưa nghĩ ra chỗ nào để đặt dấu hỏi ấy xuống.

*

Cô bắt đầu xoa tay cho bà Tạ vào tối hôm đó, và việc ấy khởi đầu bằng một tiếng quát.

"Mày làm cái gì đó! Bỏ tay tao ra!"

Cô vừa kéo cánh tay phải của bà ra khỏi chăn. Cánh tay ấy đã thôi cử động từ mùa nước năm kia, nằm đó mỏng và cứng, da vàng sạm, những ngón tay co rút lại thành hình móng chim. Cô nâng nó lên bằng cả hai tay, thật khẽ, rồi nói nhanh để bà không kịp quát tiếp.

"Con đun nước gừng, mẹ ơi, nước còn ấm. Tay nằm yên lâu thì teo, xoa cho máu chạy thì nó không teo thêm. Mẹ để con thử một tối, không đỡ thì con thôi."

"Tao nằm thế này mười chín tháng, đỡ gì nữa mà đỡ."

"Dạ, thì con thử cho biết thôi ạ."

Một khoảng im lặng, rồi bà nghiêng mặt vào vách, không nói gì thêm, và cô hiểu thế là được.

Cô nhúng khăn vào chậu nước gừng, vắt khô, đắp lên cẳng tay bà, chờ hơi ấm ngấm vào da. Rồi cô bắt đầu xoa. Từ cổ tay lên khuỷu, chậm, dùng cả lòng bàn tay, ấn vào từng thớ thịt teo, từng đường gân căng. Cô nhớ những ngày ở viện dưỡng lão, nơi cô đến thăm bà ngoại mình, và một cô điều dưỡng người miền Trung đã dạy cô cách xoa bóp cho người liệt: đi theo đường tĩnh mạch, hướng về tim, đừng ấn mạnh quá. Cô chưa từng nghĩ mình sẽ dùng đến ký ức ấy ở một nơi thế này.

Da bà mỏng, lạnh hơn cô tưởng, và sau chừng một tuần trà, tay cô nóng dần lên vì hơi ấm của hai làn da chạm nhau lâu, và cô nghe thấy một âm thanh nhỏ, không phải tiếng ho, là tiếng thở ra run run của một người đang nén khóc.

Cô không ngẩng lên, cô tiếp tục xoa. Chỉ khi nước trong chậu nguội hẳn, cô mới thấy một giọt nước chảy từ khóe mắt bà xuống gối, chạy theo nếp nhăn bên má rồi thấm vào lớp vải thô. Cô vờ như không thấy, lặng lẽ thay nước ấm, xoa tiếp, cho đến khi cả cánh tay bà đỏ hồng, mềm hơn một chút.

"Mai đun nước nóng hơn," giọng bà nói với bức vách, khàn đi. "Cái đồ vụng, xoa mạnh tay lên chứ."

*

Cô kể với Chấn chuyện thử men vào bữa cháo sáng hôm sau, và anh nhìn cô lâu đến nỗi cô tưởng mình nói điều gì dại dột.

"Em nghĩ ra cách làm men à?"

"Em không nghĩ ra gì hết." Cô thành thật đáp, hai tay vặn vạt áo. "Em chỉ muốn thử, anh ạ. Mình có tro rơm, tro trấu, tro củi, có đất sét, em muốn xem cái nào chịu chảy. Thử nhỏ thôi, mấy mảnh gạch vỡ, một cái lò con. Nếu hỏng thì mình mất có một buổi củi vụn."

Chấn gõ ngón trỏ lên mặt bàn, mắt nhìn ra lò nguội, môi mấp máy như đang đếm gạch.

"Lò con thì anh xây được," anh nói cuối cùng. "Bằng gạch vỡ, bé thôi, to bằng cái nồi. Đốt nửa ngày. Nhưng mà em thử bằng gì thì mẹ biết hết, mẹ ngửi thấy khói là biết đốt gì."

"Vậy thì em cho mẹ biết trước."

Cô chia tro ra bốn chén sành, vạch than đánh dấu trên thành chén: tro rơm vàng nhạt, nhẹ đến mức thở mạnh là bay, tro trấu xám đen, thô, tro củi trắng ngà lẫn mảnh than còn ấm, và tro bếp thường. Cô quậy từng chén với đất sét lọc và nước, ba phần bằng nhau, cảm nhận hồ đặc dần dưới đầu ngón tay, rồi nhúng mười hai mảnh gạch vỡ vào đó, mỗi chén ba mảnh. Tay cô dính đầy hồ xám, mùi tro ẩm xộc lên hăng ngái, và tim cô đập nhanh vì chỉ cần mấy mảnh gạch này không chảy, cô sẽ không còn gì để đưa cho bà Cẩm ngoài hai bàn tay lấm.

"Con kia." Tiếng bà Tạ vọng ra qua cửa sổ buồng, khi cô đang vạch ký hiệu lên một mảnh gạch. "Mày đang làm cái gì ngoài đó mà tao ngửi thấy tro?"

"Dạ, con thử men ạ, con nói trước với mẹ, con làm thử ít thôi, chừng mười hai mảnh."

"Tro gì?"

"Dạ, tro rơm, tro trấu, tro củi, với tro bếp. Mỗi thứ trộn với đất sét, ba phần bằng nhau ạ."

"Rơm gì?"

Cô khựng lại. "Dạ... rơm cuối vụ ạ."

"Rơm tẻ hay rơm nếp?" Giọng bà đột ngột nhọn lên, nhanh. "Rơm tẻ ra men đục, men ra màu cháo bã, nung lên sần như da cóc! Phải rơm nếp! Rơm nếp đốt sạch, sàng ba lượt, ngâm nước hai đêm, gạn bỏ nước đầu, đừng đổ chung! Mày cứ trộn ba phần bằng nhau như đong gạo à? Men không phải gạo!"

Cô đứng đờ ra, tay còn dính hồ xám. Cái Bến đứng cạnh, mắt tròn xoe, nhìn cô rồi nhìn về phía cửa sổ. Chấn ở gian giữa, cô thấy cái bóng anh thôi không nhúc nhích.

"Dạ, thế tro củi thì sao ạ?" Cô hỏi, thận trọng. "Củi gì mẹ?"

"Củi sến!" Bà gắt. "Hay củi dẻ gai, đừng dùng củi tạp! Tro củi một phần, tro rơm hai phần, đất ba phần, chứ đừng chia đều, đồ... đồ..." Giọng bà tắt đi, cô nghe bà thở gấp, ho một tiếng khô rát. Một khoảng lặng. Rồi bà nói thấp, nói với chính mình, như quên có người nghe. "Nhà cha tao thì dạy rơm với củi là hai vị đầu. Còn vị thứ ba..."

Tay cô đang vạch ký hiệu trên mảnh gạch dừng lại giữa nét. Cô không dám thở.

Bà im rất lâu, lâu đến mức cô tưởng bà đã thôi. "Vị thứ ba cha tao không cho nhìn," bà nói, rồi tiếng bà hạ xuống, khẽ hơn. "Ông giữ trong cái chum có khóa, ông tự pha. Tao đi lấy chồng mà chưa kịp biết." Lại một khoảng lặng, và giọng bà vỡ ra thành một tiếng quát nhỏ. "Thôi, làm đi! Cứ làm thử cho biết đi! Đừng có đứng đó mà há miệng!"

Chấn bước ra khỏi gian giữa, đứng cạnh cô. Anh không nói gì, chỉ chạm nhẹ vào khuỷu tay cô, một cái chạm nhanh, rồi rút về. Cô siết mảnh gạch trong tay đến khi cạnh nó cấn vào lòng bàn tay.

*

Cô làm theo đúng lời bà, từng chữ. Tro rơm nếp thím Sen cho xin, cô sàng ba lượt, ngâm hai đêm, gạn bỏ nước đầu, và trong hai đêm ấy Chấn xây xong lò con ở góc sân, bằng gạch vỡ và bùn, to chừng cái nồi ba mươi, có một cửa nhỏ để nhét củi và một lỗ trên đầu cho khói. Cô làm thêm bốn mảnh gạch nữa, hồ pha đúng tỉ lệ bà dạy, một-hai-ba, tro củi sến Chấn đi mua chịu ở nhà bác Mão, rồi xếp mười sáu mảnh vào lò.

Lò con cháy từ trưa tới gần tối, cô và Cái Bến ngồi hai bên canh lửa, thay phiên nhau thổi. Lửa đỏ, rồi vàng, rồi trắng, tiếng củi nổ lách tách, mùi khói nồng nặc, hơi nóng phả lên mặt rát bỏng. Cô dùng nửa tay áo thấm mồ hôi, mắt không rời cái lỗ hồng. Cái Bến bị khói xông chảy nước mắt ròng ròng, quẹt mũi, tuyên bố: "Em khóc vì khói, không phải vì lo." Chấn đang khều thử bằng que sắt, nghe thế không quay lại, chỉ nói "Anh có hỏi đâu", và nó bĩu môi quay sang thổi tiếp.

Tối đến, họ để lò nguội qua đêm, Cái Bến ngủ gục ngay trên bậc thềm với cái quạt mo cau còn cầm trong tay, đầu ngả vào vai cô. Chấn bế con bé vào chiếu, rồi lại ra ngồi cạnh cô trước ngọn lửa tàn, khuôn mặt nhuộm đỏ hồng từ phía than. Họ không nói gì nhiều. Khi trăng lên, cô đứng dậy đi đun nước gừng để xoa tay cho bà, như đã quen từ mấy hôm nay.

Trong buồng tối, cô đắp khăn ấm lên cánh tay bà, đợi, rồi bắt đầu xoa từ cổ tay lên. Đến chừng thứ ba hay thứ tư lượt, cô thấy ngón cái bàn tay phải của bà giật nhẹ. Chỉ một nhịp, rất nhỏ, như con cá quẫy dưới mặt nước.

Cô dừng tay, không dám thở, nhìn cái ngón cái teo quắt ấy và chờ.

Nó nhích lên, lần này rõ, cong lên một phần ba rồi rơi xuống chăn.

"Đứng đó làm gì! Xoa tiếp!" Giọng bà gắt, mà vỡ hẳn ra, và bà vẫn không quay mặt lại. "Chưa thấy người ta nhúc nhích ngón tay bao giờ à?"

Phía sau cô có tiếng cạch: Chấn đứng ở cửa buồng với bát cháo nguội của bà trên tay, bát nghiêng, cháo chảy xuống mu bàn chân anh mà anh không biết, hai mắt trân trân nhìn bàn tay trên chăn. Anh mở miệng, không có tiếng gì ra. Cô thấy yết hầu anh chạy lên chạy xuống, và anh lấy mu tay quệt ngang mắt một cái thật nhanh, như quệt khói.

"Mẹ," anh nói, giọng không ra giọng.

"Cháo đổ rồi kìa," bà nói với vách. "Thằng ngu."

Cô bật cười, nước mắt cũng chảy cùng lúc, hai thứ lẫn vào nhau không tách ra được. Cô cúi xuống xoa tiếp, và cánh tay bà dưới tay cô ấm lên, ấm thật.

*

Sáng hôm sau, ba người đứng quanh lò con, không ai nói câu nào. Chấn gỡ gạch cửa, thò tay vào lôi ra từng mảnh, đặt lên tấm ván. Cô nhìn bàn tay anh, tim đập dồn như hồi chờ kết quả bảo vệ. Mảnh dùng tro trấu thì xám đục, bề mặt lổn nhổn. Mảnh dùng tro bếp thì nứt thành mạng nhện. Mảnh rơm tẻ đục màu cháo bã, sần sùi. Bốn mảnh theo tỉ lệ bà dạy tốt hơn hẳn, mặt trơn, ánh lên một lớp mờ màu da lươn, nhưng bóng không đều, nổi từng chấm sạn, màu xám xanh chứ không phải xanh ngọc mà cô mong.

Cô cầm mảnh tốt nhất lên, nó nhẹ, ấm, ráp dưới lòng bàn tay. Lớp men mỏng, đục, vẫn lộ màu gạch bên dưới. Cô xoay nó trong nắng, và thấy cả ba người im lặng nhìn mình.

Từ cửa sổ buồng, tiếng bà Tạ hỏi nhỏ, không còn gắt.

"Ra sao?"

"Dạ, xám ạ." Cô nói thật. "Xám với sạn, chưa bóng được."

Có một khoảng im lặng, rồi tiếng bà thở ra.

"Thiếu vị."

Chấn đặt mảnh gạch xuống ván, vuốt tay lên mặt men xám còn ấm. Cái Bến lẩm bẩm gì đó rồi thôi. Cô đứng đó, tay cầm mảnh gạch ráp, nghĩ tới cái chum có khóa của cha bà, không biết giờ nó nằm ở đâu.