Chương 7: Hai mươi bảy xu

Thuộc tiểu thuyết Về Làm Dâu Làng Gốm

Tác giả: · Thể loại: Ngôn Tình · Đăng ngày · 2153 từ · khoảng 11 phút đọc

Bến Vại buổi sáng là một cái chợ nổi lên từ sương.

Họ đến khi mặt trời chưa vượt khỏi ngọn tre, đi bộ ba dặm trên con đường đất ven sông, Nhài gánh hai giỏ nhỏ, Cái Bến ôm một cái mẹt, và hai người đi trong im lặng cho đến khi con đường bỗng rộng ra thành một bãi cát dài trải xuống mép nước. Hàng trăm cái thuyền nan cập bờ, mũi chen mũi, cột buồm khẳng khiu dựng lên trời. Trên bờ, người ta bày hàng thành từng hàng dài, trên chiếu, trên mẹt, trên thúng, trên cả những cái phản gỗ kê tạm. Bà bán bánh đúc gõ muỗng vào tô đồng, ông bán nước chè rao bằng giọng vỡ, trẻ con chạy loạn giữa các chân gánh. Mùi cá khô, mùi gạo mới, mùi khói rơm, mùi đường thắng, mùi nước sông và mùi người quện vào nhau thành một thứ hương nặng mà sống. Nhài đứng hít một hơi dài và thấy ngực mình mở ra.

Chợ gốm nằm ở khúc cuối bãi. Cô nhìn thấy nó từ xa vì những ánh men: xanh lục, nâu da lươn, trắng ngà, chồng lên nhau thành từng tháp bát, tháp đĩa, tháp chum, sáng dưới nắng đầu ngày. Cô nhìn quanh tìm lô hàng nhà họ Tạ, rồi chợt nhớ nhà họ không có lô nào cả.

"Chị hai," Cái Bến kéo tay áo cô, hạ giọng, "mình bán rau ở khúc giữa, gần cầu tre ấy. Chỗ đó đông người mua mà ít người bán rau. Em đứng đó mấy lần rồi."

Con bé đi trước, thoăn thoắt luồn qua đám người, và cô lẽo đẽo theo sau, thấy mình như một bà dì ngô nghê bị đứa cháu già dặn dắt đi. Cái Bến chọn một góc đất sát chân cầu, lấy ngón chân gạt đá, trải mẹt xuống, rồi xếp bó nhỏ ra trước, bó to ra sau, bầu non ở giữa. Ba bó đỗ ngọn xanh, một bó rau muống non, hoa bầu nhỏ, mấy quả bầu non tròn bằng nắm tay trẻ con, còn dính phấn. Cô sờ thử lá đỗ. Giữa buổi sáng rồi mà lá vẫn mát ngọt, ẩm như vừa hái, đúng cái ẩm của khu vườn không có mặt trời kia chứ không phải của đất ngoài này, và cô vội rụt tay lại như bị ai bắt gặp.

"Rau đây! Rau nhà trồng, mới hái sáng nay!" Con bé gọi, giọng the thé nhưng rõ, và cô nghe một giọng khác chen vào, trầm, hơi hách, từ phía sau lưng.

"Rau nhà Tạ ở xóm Bãi hả?"

Cô quay lại và thấy một người đàn ông ngoài bốn mươi đứng đó, áo lụa nâu, tay cầm quạt giấy, bụng hơi phệ, hai người trẻ hơn đứng hai bên mang hai cái gánh men xanh. Ông ta liếc mẹt rau, môi nhếch.

"Dạ," Nhài đáp.

"Nhà Tạ bây giờ bán rau." Ông ta quay sang người bên cạnh, cười một tiếng ngắn. "Tao nghe nói lò nhà họ nguội hai năm liền. Bây giờ sống nhờ vườn bà con." Ông ta quay lại nhìn cô, nụ cười vẫn nằm trên mặt nhưng đôi mắt thì không cười. "Cô là con dâu mới đấy hả, thương cho cô. Làm dâu nhà đó thì nên học nghề trồng rau, nghề gốm thì cứ để nó chết đi. Mà cũng vừa hay, tao mới mua được ít đồ nghề cũ của nhà cô, rẻ như cho."

Nhài giữ nguyên nụ cười, và cô biết nụ cười của mình cứng đến mức nào. "Đồ nghề gì ạ?" cô hỏi, thật lòng không hiểu.

Ông ta nhướn mày, hai người đi theo ông ta khúc khích. "Hỏi chồng cô." Ông ta quay đi, tiếng quạt giấy phành phạch, và họ rời mẹt rau về phía hàng gốm, nơi một đám đông đang chờ mua men xanh mới ra lò.

Cái Bến đứng im, hai bàn tay nắm chặt, mặt đỏ phừng. Nhài cúi xuống, chạm vào vai con bé.

"Ai vậy em?"

"Ông Hai Thượng, thợ chuốt lò Đỗ." Giọng con bé nghẹn lại. "Ông hay nói thế lắm, hai năm trước, hồi cha còn, ông không dám."

Cô không nói gì, chỉ lấy một bó đỗ ngọn trên mẹt, cắm vào tay con bé, và bảo thôi, em rao tiếp đi, rau của mình tươi hơn của bọn họ, ai mua thì mua. Con bé nhìn cô, lau mũi bằng mu bàn tay, rồi gào lên "Rau đây!" to đến nỗi bà bán cá bên cạnh giật mình. Câu "đồ nghề cũ" còn nằm lại trong đầu cô như hạt sạn cộm dưới móng tay, và cô chưa gỡ nó ra được.

*

Người mua rau đầu tiên là một bà đứng tuổi đầu quấn khăn mỏ quạ, mập, da đỏ, tay cầm một cái bơ đồng.

Nhài nhận ra bà từ xa, và thấy mẹt rau của mình bỗng bé đi. Bà Cẩm đứng trước mẹt, không nói gì, nhìn. Bà cầm một bó đỗ ngọn lên, bẻ thử một cọng, nhai, nhắm mắt lại.

"Đỗ này," bà nói cuối cùng, giọng khô, "tháng Giêng mà non thế này là lạ. Ai trồng?"

"Dạ nhà con trồng, bà ạ."

"Trồng ở đâu?"

"Ở sau bếp ạ, chỗ đất tốt, con chăm kỹ." Tim cô đập dồn lên cổ, và cô thấy lòng bàn tay mình ướt. Bà Cẩm không nhìn cô, bà nhìn cái cọng đỗ, đôi mày nhíu lại rồi giãn ra, nhíu lại lần nữa rồi giãn.

"Đất nhà Tạ mà ra thứ này thì lạ," bà nói, thấp giọng, nửa như dặn nửa như dò. "Đừng kể ai nghe, chợ này nhiều miệng."

"Dạ."

"Mười xu một bó, tôi mua cả ba," bà nói. "Thơm đấy. Nhà này còn rau thì báo tôi, lần sau tôi mua nữa."

Cô nuốt nước bọt. Ba bó là ba chục xu, gần bằng bốn cái bát men tám xu, và cô nghĩ đến cái chum gạo trống. "Dạ, mười xu một bó nhiều quá, bà ơi. Rau ngoài chợ giá hai xu một bó."

Bà Cẩm nhìn cô lần đầu tiên, thẳng, chậm, từ trên xuống dưới.

"Rau ngoài chợ hai xu vì rau ngoài chợ héo," bà nói. "Rau này thì mười. Tôi trả giá đúng, đừng bắt tôi trả thiếu."

Cái Bến đứng cạnh, miệng há ra, quên cả rao. Nhài nghẹn, rồi cô mỉm cười, một nụ cười thật, thấy má mình nóng lên. "Dạ, vậy bà cứ trả mười."

Bà cầm ba bó, đếm ba chục xu tiền kẽm lên mẹt, ngón tay bà chạm mép mẹt một cái, rồi quay đi. Cô nhìn theo bóng bà trên bãi cát, bàn tay vẫn úp trên chỗ bà vừa chạm, ba chục xu còn ấm hơi tay bà.

Bà bán cá bên cạnh mua nốt bó rau muống với mấy quả bầu non, trả năm xu. Trừ hai cái bánh rán, Cái Bến mua bốn xu một cái, mỗi người một cái, nó cắn một nửa rồi gói nửa kia vào lá chuối. "Để phần anh Chấn," nó tuyên bố. Đến trưa cả hai giỏ nhỏ đã trống, và cô cầm hai mươi bảy xu trong lòng bàn tay, siết lại, không dám mở ra.

*

Về đến nhà, họ thấy trước cổng có một chiếc xe kéo tay chất đầy củi.

Củi sến, bó gọn, buộc dây mây, chẻ đều tăm tắp. Nhài đếm: mười gánh, bốn tạ, đủ một lò. Chấn đang đứng bên xe, lưng quay lại, trả công cho người đẩy xe. Anh đưa vài đồng, người đàn ông gật đầu, đẩy xe ra, và khi anh quay lại, anh thấy hai người đứng đó.

"Củi ở đâu ra vậy anh?" Nhài hỏi, và giọng cô bình thản đến mức chính cô cũng ngạc nhiên.

"Anh mua." Anh tránh nhìn cô. "Của ông Chín bên xóm trên, ông bán rẻ."

"Mua bằng gì?"

Chấn không đáp, cô nhìn xuống thắt lưng anh. Cái túi vải nhỏ anh luôn đeo, trong đó anh giữ bộ dao chuốt của cha, bảy con dao thép bọc da, đêm nào anh cũng mài, đã không còn ở đó. Chỉ còn cái túi vải lép kẹp, rũ xuống. Và cô nghe lại giọng ông Hai Thượng, đồ nghề cũ của nhà cô, rẻ như cho.

Máu rút khỏi mặt cô.

"Anh bán bộ dao của cha."

"Ừ," anh nói nhỏ. "Ông Hai Thượng hỏi mua từ tuần trước, nên hôm qua anh đem sang. Có tiền rồi, sáng nay anh nhờ ông Chín đẩy củi về."

"Bán bao nhiêu?"

"Sáu hào."

"Sáu hào," cô nhắc lại, tính nhẩm ra sáu mươi xu, vừa đủ mười gánh củi với tiền thuê xe. "Bộ dao đó bác Mão nói đáng giá gấp mười lần, Cái Bến kể em nghe rồi. Anh bán cho đúng người sáng nay vừa cười nhà mình ngoài chợ. Anh làm gì mà không hỏi em một câu?"

Chấn ngẩng lên, cô thấy mắt anh đỏ, nhưng giọng anh vẫn trầm, bình tĩnh đến độ khiến cô muốn đập vỡ cái gì đó. "Em gánh rau đủ rồi, việc củi để anh. Anh là chồng em, anh không để vợ bán rau mua củi."

"Em không phải người ở." Cô nói to hơn mình định. "Em cũng là chủ nhà này, em cũng tính, em cũng lo. Hôm nay em bán rau được hai mươi bảy xu, hai mươi bảy xu em cầm đây, em chưa kịp nói với anh. Còn anh... dao của cha anh mà anh..."

"Vì anh sợ em nói không!" Anh quát, lần đầu tiên cô nghe anh quát, tiếng quát vỡ ra giữa sân, làm Cái Bến giật mình. Anh im bặt, ngực phập phồng, nhìn xuống đôi bàn tay trống, rồi thấp giọng hơn nhiều, gần như thì thầm. "Anh sợ em bảo giữ dao, anh sẽ... anh sẽ không bán được, rồi không có củi. Rồi mồng Ba tháng Ba tới."

Cô đứng sững, hai mươi bảy xu nóng bỏng trong lòng bàn tay. Cơn giận trong cô xẹp đi nhanh đến mức cô không biết để hai tay đâu, mở ra không được mà nắm lại cũng không xong. Vai anh run lên khẽ, bàn tay anh, to, chai, không còn cầm gì.

"Anh Chấn," cô nói, và giọng cô khản đi. "Lần sau... nói với em trước. Em nói không thì mình cãi nhau một trận. Rồi tính tiếp, đừng tự gánh rồi đi mất một mình."

Anh không đáp. Anh đứng đó nhìn đôi chân mình trên nền gạch, và cuối cùng anh gật đầu, một cái gật nhỏ.

Cái Bến lặng lẽ bước lên, mở lá chuối, chìa nửa cái bánh rán đã nguội cho anh. "Em để phần anh." Chấn nhìn nó, cái nhìn dài, rồi cầm lấy, cắn một miếng, và nhai, mắt đỏ lên thấy rõ. "Bánh gì mà cứng như đá," anh nói, giọng nghẹn. "Cứng như đá," Cái Bến đồng ý, và nó cười, và anh cũng nhích khóe môi, bên trái.

Cô bước tới, đặt hai mươi bảy xu vào bàn tay anh, khép các ngón tay anh lại quanh chúng. Anh giữ một lát, rồi lặng lẽ nhét chúng trả vào tay áo cô. Bàn tay anh lạnh ngắt. Cô giữ nó trong hai tay mình cho tới khi nghe tiếng bà Tạ ho khan trong buồng, và tiếng gắt gỏng ngọng nghịu vang ra.

"Hai đứa mày đứng ngoài sân làm trò gì! Củi về rồi thì chất vô! Chấn, đi lấy đòn!"

Họ chất củi đến lúc chạng vạng. Bữa tối là nồi cháo khoai thím Sen đem sang, nên hai mươi bảy xu vẫn còn nguyên trong tay áo cô. Mùi nhựa sến hăng và ấm toả ra từ những thanh gỗ mới chẻ, ám vào áo, vào tóc, vào cả kẽ tay cô. Chấn xếp từng lớp vào gầm hiên lò, ngay ngắn, có chừa khe cho gió. Cái Bến chạy qua chạy lại đưa dây buộc, mặt vẫn còn đỏ vì cuộc cãi nhau lúc nãy, nhưng nó không hỏi gì, và khi nó chạy ngang, cô vuốt đầu nó một cái, nó khựng lại nửa bước rồi chạy tiếp.

Khi xong, trời đã tối hẳn và Chấn vào bếp rửa tay, còn Nhài đi một vòng quanh sân, và dưới cái đinh đóng vào cột hiên, nơi trước đây anh vẫn treo bộ dao, cô thấy cái túi vải lép treo lủng lẳng, gió thổi làm nó đung đưa. Cô đứng nhìn nó một lúc. Rồi cô lấy trong tay áo hai mươi bảy xu đồng kẽm, những đồng tiền đầu tiên cô kiếm được, bỏ từng đồng một vào cái túi rỗng, nghe tiếng chúng chạm nhau, nhỏ.

Không đủ để chuộc lại bộ dao, nhưng cô muốn nó có chỗ để đợi.