Chương 20: Dấu son đỏ

Thuộc tiểu thuyết Vé Vào Miền Cổ Tích

Tác giả: · Thể loại: Vô Hạn Lưu · Đăng ngày · 2260 từ · khoảng 11 phút đọc

Ngày thứ mười hai của hội làng trôi qua trong bầu không khí đặc quánh của bụi đất và mùi mực in khô khốc. Phía bệ đá trung tâm sân đình, chiếc hài thêu phượng nằm im lìm trong tráp gỗ. Ánh nắng chiều xiên khoai hắt lên những sợi chỉ vàng đã sỉn màu. Đoàn tùy tùng của nhà vua vẫn chưa có ý định rời đi. Những người lính áo đỏ đứng dàn hàng ngang, tay nắm chặt cán giáo, mắt nhìn thẳng vào hàng người đang run rẩy.

Một viên thư lại bước lên, tay ôm cuốn sổ hộ có gáy đóng bằng da trâu cũ kỹ. Hắn đặt cuốn sổ lên mặt bệ đá, động tác dứt khoát làm tung một lớp bụi mỏng. Quản bút lông được nhúng chậm rãi vào nghiên mực đỏ thắm.

"Người của làng, nghe đây."

Viên thư lại cất tiếng, giọng hắn đều đều, khô.

"Hài đã có chủ. Nhưng tên phải khớp với sổ. Ai được gọi tên, bước lên tự xưng danh phận. Nếu tên khớp với chữ, được phép qua bến đò đi hội. Nếu không, nét bút lông sẽ gạch ngang."

Trinh siết chặt hai bàn tay. Mồ hôi làm bết những sợi tóc mai vào thái dương. Cô đứng trong hàng, đếm ngược. Mười người. Chín người. Bà Sáu Thìn đứng ngay phía trước cô, cách bệ đá đúng năm lượt người nữa. Vai bà Sáu run lên bần bật dưới lớp áo nâu sồng rách nát.

Viên thư lại giở sổ, ngón tay miết lên mặt giấy ráp.

"Trần Văn Hợi!"

"Dạ, có tôi! Hợi ở xóm Đông đây!"

"Qua."

"Lê Thị Bưởi!"

"Con Bưởi nhà ông giáo, dạ có!"

"Qua."

"Vũ Đại!"

"Tui, Vũ Đại, thợ rèn."

"Lấy họ khác đi."

"Dạ?"

"Ngươi họ gì?"

"Dạ, Vũ Văn Đại ạ."

"Đúng tên mới được đi. Qua."

Hàng người nhích lên chậm chạp. Trinh lẩm nhẩm tính toán.

"Còn bốn người nữa."

"Ba người," Kiêm sửa lại. "Nhìn kìa, thằng nhỏ kia chạy mất rồi."

"Lê Văn Mão!"

Viên thư lại gọi. Một người đàn ông trung niên bước ra khỏi hàng. Hắn cúi rạp đầu, giọng run.

"Dạ, tôi là Lê Văn Mão."

Viên thư lại không nhìn người, chỉ nhìn vào dòng chữ trên trang giấy bản. Hắn đặt một dấu son đỏ chói bên cạnh cái tên.

"Qua."

Mão lùi lại, lách qua đám lính để đi về phía bến đò rìa làng. Hàng người nhích lên một bước. Khoảng cách giữa bà Sáu và bệ đá thu hẹp lại. Trinh nhìn chằm chằm vào cái cổ gầy guộc của bà Sáu. Người đàn bà ấy đã mất tiếng từ ngày thứ sáu. Cổ họng bà chỉ còn phát ra những tiếng khò khè vô nghĩa. Nếu đến lượt, bà sẽ lấy gì để tự xưng?

"Nguyễn Thị Thìn!"

Tiếng gọi vang lên sớm hơn Trinh tưởng. Bà Sáu lảo đảo bước tới trước bệ đá. Bà đứng sững, đôi mắt đục mờ nhìn vào viên thư lại. Hắn không ngẩng đầu, tay vẫn lăm lăm quản bút lông đỏ.

"Xưng tên."

Bà Sáu mở miệng. Hai cánh môi bà mấp máy liên tục. Một tiếng rít khô vang lên trong thanh quản rồi tắt lịm. Bà cố rướn người, gân cổ nổi lên xanh xám, nhưng tuyệt nhiên không có một âm tiết nào thoát ra ngoài.

Viên thư lại nhướng mày. Hắn ngẩng lên, nhìn bà Sáu bằng ánh mắt vô hồn.

"Tên."

Bà Sáu đưa tay lên cổ, cào nhẹ vào lớp da nhăn nheo. Bà nhìn Trinh với ánh mắt van nài. Kiêm đứng ngay sát sau Trinh, anh bước lên một bước, chắn giữa bà Sáu và bệ đá.

"Thưa thầy, đây là bà Thìn. Bà ấy ốm nên mất giọng, tôi xưng thay có được không?"

"Đứng lại đó."

"Tôi chỉ muốn giúp thầy làm sổ cho nhanh."

"Quy định là tự xưng. Không lời, không tên."

"Thầy bớt chút khắt khe, chúng tôi sẽ có lễ."

"Mặc cả với luật làng à? Lùi xuống!"

Trinh vội vàng rút cuốn sổ tay nhỏ từ túi áo ra. Cô lật trang trắng, dùng chiếc bút chì gỗ viết vội ba chữ: "Nguyễn Thị Thìn". Cô đưa tờ giấy về phía viên thư lại, đôi tay run đến mức các khớp xương kêu răng rắc.

"Bà ấy viết được. Đây là tên bà ấy."

Viên thư lại liếc nhìn Trinh, rồi nhìn vào tờ giấy.

"Để bà ta viết đi."

Bà Sáu cầm lấy bút, nhưng tay bà run bật lên. Ngay khi mắt viên thư lại chạm vào những nét chì, mặt giấy bắt đầu biến đổi. Mực chì mờ đi, nhạt dần rồi tan biến vào thớ giấy trắng như chưa từng tồn tại.

"Ta đổi ý rồi. Giấy không giữ được chữ là giấy giả. Không hợp lệ."

"Sao thầy lại rút lời?"

"Vì luật không có chỗ cho chữ bay màu."

"Chúng ta phải làm gì đây?" Trinh quay sang Kiêm, giọng hoảng hốt.

"Bỏ đi Trinh, mình không can thiệp được đâu."

"Nhưng họ sẽ gạch tên bà ấy!"

"Gạch thì đành chịu, cô muốn cả đám chết chùm à?"

Viên thư lại lạnh nhạt nói, đoạn nhấc bút lông lên. Đầu bút chĩa thẳng vào cái tên Nguyễn Thị Thìn trên trang sổ hộ. Chỉ một tích tắc nữa, nét gạch đỏ sẽ xóa sổ sự tồn tại của người đàn bà này.

"Dừng lại!"

Trinh hét lên. Tiếng của cô xé toạc sự im lặng ở sân đình. Kiêm túm lấy vai Trinh, siết mạnh đến mức cô thấy đau nhói.

"Trinh, cô điên rồi! Quay lại hàng ngay!"

"Tôi có cách khác. Tôi thấy chỗ sai rồi."

"Cách gì? Nói bằng lời người thường thôi, đừng có dùng thuật ngữ lạ."

"Chiếc hài. Nó bị lỗi."

"Lỗi ở đâu? Cô nhìn từ xa thế mà biết à?"

"Dưới đế. Anh hỏi lại tôi từng bước đi, tôi sẽ chỉ cho anh thấy."

"Thôi đi! Cô biết cái giá phải trả không? Mép vé sẽ sạm thêm đấy!"

"Tôi không thể đứng nhìn."

"Bà Sáu đằng nào cũng câm, bà ấy qua đò rồi cũng có sống nổi đâu?"

"Sống hay không là việc của bà ấy, còn đúng hay sai là việc của tôi."

"Cô sẽ làm tấm vé hỏng hoàn toàn."

"Nó sạm một nấc cũng được, miễn là cứu được người."

"Cô không sợ bị đuổi ra khỏi đây à?"

"Tôi sợ nhìn thấy một sự bất công rõ rành ranh hơn."

"Tôi không cản cô nữa, nhưng tôi sẽ không gánh hậu quả thay cô."

"Tôi tự làm tự chịu."

Trinh gạt tay Kiêm ra. Cô không nhìn bà Sáu, cũng không nhìn Kiêm. Đôi mắt cô dán chặt vào chiếc hài thêu phượng đặt trong tráp gỗ. Cô nhớ lại những gì mình đã thấy dưới bến nước vào ngày thứ mười. Cô nhớ số hiệu in dập nổi dưới đế hài.

"Ông không thể gạch tên bà ấy vì lỗi không nằm ở người xưng."

Viên thư lại dừng bút. Hắn nhìn Trinh, hàng lông mày nhạt màu hơi nheo lại.

"Cô nói gì?"

"Chiếc hài này đúc lỗi." Trinh bước hẳn ra khỏi hàng, cô chỉ vào vết khuyết nhỏ ở phần mép gót hài. "Số hiệu khuôn là 04-B. Đó là bản kẽm bị mẻ khuôn khi dập. Sổ của ông đang ghi theo số hiệu 04-A, tức là bản chuẩn."

"Căn cứ vào đâu mà cô dám bảo hài vua ban bị lỗi?"

"Ông cứ lật đế hài lên."

"Sổ ta ghi rõ ràng là 04-A, không có chuyện nhầm."

"Vậy tại sao lề gót hài lại có vết khía sâu? Đó là vết mẻ của khuôn 04-B."

Trinh dõng dạc nói tiếp, giọng như đang trình bày một bản thảo lỗi trước ban biên tập.

"Trong nghề in của chúng tôi, một khi khuôn chì đã mẻ, mọi bản dập ra đều mang lỗi. Chiếc hài này không thuộc về bất kỳ đôi bàn chân chuẩn nào trong sổ hộ của ông. Nó là một dị bản. Ông đang ép một người xưng tên vào một danh sách không có chỗ cho lỗi bản kẽm."

"Nhà vua không bao giờ dùng đồ lỗi!"

"Lỗi hay không, lật lên sẽ rõ. Số hiệu nằm ngay dưới lòng đế."

Viên thư lại nhìn xuống chiếc hài, rồi nhìn sang người quản đoàn.

"Lật hài đối chiếu!"

Người quản đoàn hậm hực bước tới, nâng chiếc hài lên. Đám người làng xì xào to nhỏ.

"Con nhỏ đó gan thật, dám bảo hài vua mẻ."

"Mà nếu nó nói đúng thì sao?"

Trinh tiến sát lại bệ đá, chỉ tay vào dãy số hiệu dập chìm dưới gầm hài.

"Hãy nhìn đi. 04-B. Nếu ông dùng số hiệu 04-B để đối chiếu lại lề phải của trang sổ, ông sẽ thấy tên Nguyễn Thị Thìn nằm ở mục 'Bản hiệu đính'. Ở mục đó, tên người không cần tự xưng bằng lời, mà được xác nhận bằng chính vết khuyết ở gót chân."

Ngay khi dứt câu, Trinh cảm thấy một luồng điện lạnh ngắt chạy dọc sống lưng. Trong túi áo, tấm vé giấy bắt đầu nóng rực lên. Cô biết mép răng cưa của nó vừa sạm thêm một nấc nữa. Nấc thứ tám. Một cảm giác tê dại bắt đầu lan từ cổ tay lên đến tận bả vai, khiến cánh tay cô nặng trĩu.

Viên thư lại không đáp lời ngay. Hắn chậm rãi lật lại trang sổ da trâu. Ngón tay hắn dò tìm từng dòng chữ nhỏ li ti ở lề phải. Hắn dừng lại ở một dòng mực mờ nhạt, rồi nhìn xuống chiếc hài trong tráp. Hắn dùng đầu bút lông lật nhẹ gót hài lên để soi số hiệu.

Hắn khựng lại. Một thoáng im lặng bao trùm sân đình, chỉ còn tiếng gió rít qua những cành cây gạo khô héo.

"Số hiệu 04-B." Hắn gật đầu, giọng vẫn không chút cảm xúc. "Khớp với bản hiệu đính."

Hắn thu bút lông lại, không gạch tên bà Sáu Thìn nữa. Thay vào đó, hắn cầm con dấu đồng, đóng một dấu son đỏ thẫm đè lên tên bà.

"Nguyễn Thị Thìn, đã khớp danh phận. Qua."

Bà Sáu Thìn đứng lặng người. Bà nhìn xuống đôi bàn chân mình, rồi nhìn chiếc hài thêu phượng đang từ từ co rúm lại, biến đổi hình dạng cho đến khi vừa khít với kích cỡ bàn chân nứt nẻ của bà. Người đàn bà này vẫn không nói được, nhưng hơi thở đã bớt dồn dập hơn.

"Bà qua đi." Trinh nói, giọng cô lạc đi vì mệt mỏi.

Người làng đứng xung quanh nhìn Trinh bằng những ánh mắt lạ lẫm, không một ai reo hò hay cảm ơn. Đối với họ, đây chỉ là một thủ tục hành chính vừa được hoàn tất. Đoàn lính áo đỏ bắt đầu thu dọn giáo mác.

Viên thư lại gấp cuốn sổ hộ lại. Hắn không rời đi ngay mà đứng yên tại chỗ, nhìn chằm chằm vào Trinh. Ánh mắt hắn sắc lẹm, soi mói như thể đang đọc một trang bản thảo đầy lỗi sai.

"Cô vừa nói cô làm nghề gì?"

Trinh hít một hơi sâu, cố giữ cho giọng mình không run.

"Tôi là hiệu đính viên."

"Chỉ những kẻ làm nghề ấy mới thấy được vết mẻ trên khuôn chì." Viên thư lại nói, giọng hắn thấp xuống. "Nhưng cô nên nhớ, trong một bản in hoàn chỉnh, kẻ luôn tìm ra chỗ sai chính là kẻ đầu tiên bị bản thảo đào thải."

Hắn quay lưng bước đi về phía đoàn tùy tùng. Chiếc hài thêu phượng đã được cất vào tráp, nắp gỗ đóng sập lại với một tiếng khô.

Kiêm đi tới, túm chặt lấy khuỷu tay Trinh, kéo cô ra khỏi trung tâm sân đình. Gương mặt anh đanh lại, những thớ cơ trên hàm giật liên hồi.

"Cô cứu được bà ấy, nhưng cô đã tự ghi tên mình vào danh sách đen của chúng rồi." Kiêm nói, giọng đầy áp lực. "Từ giờ, họ sẽ không để mắt đến người làng nữa. Họ sẽ để ý cô."

Bà Sáu Thìn tiến lại gần. Người đàn bà khốn khổ không nói, chỉ dùng bàn tay thô ráp nắm lấy tay Trinh. Bà nhìn Trinh trân trối, rồi bất ngờ đưa tay chỉ vào túi áo của Trinh, nơi chứa tấm vé. Người phụ nữ ấy làm một cử chỉ lạ, giống như đang xé một tờ giấy, rồi lắc đầu liên tục.

"Bà muốn nói gì?" Trinh hỏi.

Bà Sáu Thìn chỉ biết ú ớ những âm thanh vô nghĩa. Bà buông tay Trinh ra, rồi liêu xiêu bước theo dòng người đi về phía bến đò. Dáng bà nhỏ bé, lọt thỏm giữa những bóng áo đỏ của lính tráng.

Trinh đứng lại giữa sân đình vắng lặng. Cô đưa tay vào túi áo, chạm nhẹ vào mép tấm vé. Lớp giấy giờ đây nhám hơn, những đường răng cưa đã mòn vẹt và sạm đen gần hết. Cô nhìn xuống bàn tay mình, vệt mực đỏ từ tấm vé đã thấm vào da thịt, tạo thành những đường vân kỳ dị quanh đầu ngón tay.

Chiếc tráp gỗ vẫn nằm đó trên bệ đá, trơ trọi giữa buổi chiều tà. Trong tráp, chiếc hài thêu phượng nằm nghiêng, chỗ mép cụt quay lên trên.